Một năm nhìn lại - Nông Thôn Việt

Một năm nhìn lại

Thứ Ba, 19/01/2021, 08:58 [GMT+7]

Năm 2019, giá trị nông sản xuất khẩu của Việt Nam đạt 40,55 tỷ USD. Năm 2020 nông sản xuất khẩu của Việt Nam đạt trên 41,2 tỷ USD.

 

Con số hơn nửa tỉ USD chưa phải là lớn. Nhưng trong bối cảnh một năm đại dịch Covid-19 gây nên khủng hoảng toàn diện; một năm đất nước phải hứng chịu đợt hạn mặn xâm nhập đến hơn nửa diện tích canh tác của ĐBSCL - vựa lúa lớn nhất nước; và dải đất miền Trung từ Hà Tĩnh đến Khánh Hòa hứng chịu sự tàn phá của 13 cơn bão… mà nông sản xuất khẩu vẫn tăng trưởng dương, thì ý nghĩa không hề nhỏ. Hơn thế nữa, dân số Việt Nam có đến 100 triệu, đứng 12 thế giới, trong khi diện tích đất nông nghiệp trồng trọt chỉ có hơn 10 triệu/33 triệu héc-ta đất tự nhiên, đứng hàng thứ 54 thế giới. Vị trí địa lý lại nằm bên bờ biển Đông, khu vực rốn bão của thế giới… Đất chật, người đông, thường xuyên phải đối mặt với thiên tai bão lũ, vậy mà, sản xuất lúa gạo và các loại nông sản không những luôn đảm bảo cho an ninh lương thực của đất nước 100 triệu dân mà còn xuất khẩu mỗi năm hàng chục tỉ USD; giá trị xuất khẩu năm sau luôn cao hơn năm trước. Thành quả đó, cũng không nhiều quốc gia, kể cả những quốc gia phát triển, có thể làm được.

Chương trình xây dựng Nông thôn mới (NTM) năm 2020 có thể coi là một thành tích đáng tự hào. Trong 10 năm, tổng huy động nguồn lực xã hội đầu tư xây dựng NTM đã lên đến 3 triệu tỷ đồng. Đến nay, cả nước đã hoàn thành 5.506 xã (62%) số xã, vượt chỉ tiêu gần 12% và vượt thời gian 1,5 năm. Qua Chương trình xây dựng NTM, diện mạo nhiều vùng nông thôn đã thay đổi nhanh chóng, đời sống vật chất tinh thần người dân được cải thiện căn bản; bình quân thu nhập người dân vùng nông thôn từ 10 triệu (năm 2010) lên 43 triệu (năm 2020) - tăng hơn 4 lần…

Tuy nhiên, nhìn thẳng vào thực tế nông nghiệp - nông thôn - nông dân trên bình diện cả nước vẫn còn không ít tồn tại. Nông nghiệp - đến nay vẫn là ngành sản xuất “nhạy cảm”. Người nông dân vẫn phải tự mình ứng phó với thiên tai, dịch bệnh, và sự trồi sụt của thị trường. Sản xuất nông nghiệp vẫn theo kiểu “may nhờ rủi chịu” - không có bảo hiểm rủi ro. Nông dân và các chủ trang trại, gia trại rất khó tiếp nhận nguồn tín dụng nên việc đầu tư thường không tới… Do vậy, sản phẩm nông nghiệp có số lượng lớn nhưng hiệu quả chưa cao. Đó cũng là hạn chế lớn trong hội nhập quốc tế, cạnh tranh toàn cầu.

Trong xây dựng NTM, khoảng cách giữa đồng bằng và miền núi, đặc biệt là vùng miền núi phía Bắc vẫn còn khá cao. Tính đến tháng 10/2020, khu vực miền núi phía Bắc chiếm 25,6% tổng số xã của cả nước nhưng chỉ chiếm 14,8% số xã đạt chuẩn NTM. Trong khi cả nước còn 762 xã dưới 10 tiêu chí thì miền núi phía Bắc có tới 485 xã (63,6%); trong số 09 tỉnh có tỷ lệ xã đạt chuẩn dưới 30% thì miền núi phía Bắc có đến 07 tỉnh…

Tất cả những “nút thắt”, “điểm mờ” đó đặt ra cho Chính phủ và ngành nông nghiệp & phát triển nông thôn giai đoạn tới phải có những quyết sách và giải pháp thực hiện quyết liệt hơn nữa. Muốn đẩy mạnh tái cơ cấu nông nghiệp theo hướng sâu hơn, hiện đại và hiệu quả hơn; muốn sản xuất nông nghiệp phát triển theo quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; muốn gắn sản xuất với bảo quản, chế biến và tiêu thụ sản phẩm; muốn mở rộng chuỗi liên kết để nâng cao giá trị nông sản... thì cần có nhiều hơn nữa số lượng doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp. Những năm vừa qua, đã có khá nhiều doanh nghiệp tên tuổi cũng như các doanh nghiệp khởi nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, chế biến các loại nông sản, thủy hải sản...

Tuy nhiên, số lượng đó vẫn còn quá ít, chỉ trên dưới 1%. Chính quyền - từ trung ương đến các địa phương - cần đẩy mạnh hơn nữa việc tổ chức xúc tiến đầu tư, kêu gọi, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Các ngành nông nghiệp, tài chính, ngân hàng... mạnh mẽ cải tiến các văn bản quy định về thủ tục giao, thuê đất, mặt nước, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và thủ tục thế chấp, vay vốn tín dụng... nhằm tạo điều kiện thuận lợi để khuyến khích, hỗ trợ các doanh nghiệp an tâm đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp.

Để đảm bảo chữ tín trong hợp tác giữa các nhà đầu tư và nông dân, rất cần có những văn bản quy định chặt chẽ về việc liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm giữa hai lực lượng chủ chốt này. Nông dân liên kết sản xuất với doanh nghiệp không những gia tăng giá trị nông sản, đảm bảo đầu ra ổn định và quan trọng hơn còn giữ được quyền sử dụng đất - một tài sản “cha truyền con nối”.

Nhà đầu tư liên kết sản xuất với nông dân chỉ cần đầu tư khâu giống, vật tư, kỹ thuật và tiêu thụ sản phẩm mà không cần phải thuê đất, tổ chức lực lượng lao động cơ hữu... Các doanh nghiệp đầu tư thành công còn là nguồn lực xã hội lớn góp phần xây dựng NTM, cải thiện đời sống dân cư, trình độ dân trí ở các vùng nông thôn.

Lợi ích thấy rõ, nhưng vì sao việc liên kết sản xuất giữa nông dân với nhà đầu tư chưa trở nên phổ biến, hiệu quả chưa cao?

NGUYỄN ĐỨC

;
.
.
.
.