Bản sắc làng nghề trước ngưỡng cửa hội nhập - Nông Thôn Việt

Bản sắc làng nghề trước ngưỡng cửa hội nhập

Thứ Sáu, 08/12/2017, 09:40 [GMT+7]

Hội nhập kinh tế đang đưa đến những thay đổi tích cực cho làng nghề, tuy nhiên cũng đặt ra nhiều thách thức. Một trong số đó là việc duy trì bản sắc làng nghề, hội nhập mà không làm mất bản sắc.

Làng nghề truyền thống là một bộ phận của nền văn hóa Việt Nam, là “đại sứ đặc mệnh toàn quyền” trong lĩnh vực văn hóa vật thể và phi vật thể của Việt Nam đối với cả thế giới. Nó có vai trò cực kì quan trọng, thể hiện sự sáng tạo của hoạt động văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề truyền thống của Việt Nam đang đứng trước nguy cơ giảm sút nhiều và dần về quy mô hoạt động, chức năng, vai trò, đồng nghĩa với việc giảm sút là mất đi cái sắc thái văn hóa của dân tộc.

Khi lợi ích kinh tế “va chạm” với giá trị văn hóa

Khi nền văn hóa Việt Nam nằm trong vòng xoáy của cơn lốc kinh tế thị trường, thì việc “va chạm” này là không thể tránh khỏi.

Bởi lẽ, hình thức sản xuất của làng nghề truyền thống bao giờ cũng mang tính thủ công, sản phẩm làm ra là đơn nhất, cho nên nó mang tính văn hóa nhiều hơn là giá trị kinh tế. Để tạo ra một sản phẩm mang giá trị văn hóa thì đòi hỏi phải có sự công phu và khéo léo, mất nhiều thời gian, nhưng giá trị bán ra chưa chắc đã bằng những sản phẩm làm bằng máy móc. Ví dụ như làng gốm Bàu Trúc (thị trấn Phước Dân, huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận), đặc trưng của nó là làm bằng cách xoay tay, lao động hoàn toàn thủ công, tạo ra sản phẩm rất độc đáo, không một sản phẩm nào có thể lặp lại yếu tố của sản phẩm nào cả, hoàn toàn mang tính cá thể. Những thứ như vậy thể hiện rất rõ sự tài hoa, sự cẩn trọng, sự khéo léo. Nó gửi gắm trong đó những quan niệm thẩm mỹ, tư duy nghệ thuật của người Chăm. Tuy nhiên cứ duy trì phương thức sản xuất truyền thống như thế thì cuộc sống về phương diện vật chất của người dân sẽ không được đảm bảo bởi nó không thực sự phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường.

Tính đến nay, số làng nghề và làng có nghề của nước ta là 5.411. Tuy nhiên, có rất ít làng nghề còn giữ được bản sắc văn hóa, chưa kể nguy cơ mất nhiều làng nghề truyền thống.

Đến làng gốm Bát Tràng (huyện Gia Lâm, thành phố Hà Nội), nhiều người sẽ phải ngạc nhiên vì sự thay đổi đáng kinh ngạc nơi đây. Xe kéo, xe thồ trước đây nườm nượp nay cũng vắng bóng. Các mặt hàng bán thì vô cùng phong phú, nhưng chủ yếu là hàng nhái theo mẫu của Trung Quốc, của làng gốm Phù Lãng (huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh)… Các sản phẩm đều na ná nhau, nét vẽ không được trau chuốt. Ở Bát Tràng hiện nay chỉ còn lại rất ít nghệ nhân làm gốm bằng tay, hầu hết đã chuyển sang làm bằng khuôn đúc.

Đang dần bị mai một, hay sống một cách lay lắt là điều đáng buồn với nhiều làng nghề Hà Nội.

Nghề làm giấy sắc Nghĩa Đô (thứ giấy quan trọng trong việc khôi phục gia phả, thư tịch cổ và nhất là dùng để viết những bằng khen cao quý); cốm làng Vòng; nghề đúc đồng Ngũ Xá, nghề làm tranh dân gian, làng thuốc nam Đại Yên…  Hay ngay cả với tranh Đông Hồ nổi tiếng của tỉnh Bắc Ninh, làng tranh nay đã thành làng làm hàng mã. Nghề làm tranh chỉ còn ba gia đình còn duy trì, nhưng chủ yếu là những nghệ nhân đã cao tuổi.

Đặc biệt, tại nhiều nơi, đặc điểm sinh hoạt văn hóa tinh thần của làng nghề hầu như cũng đang dần biến mất, đó là tục thờ cúng tổ nghề, gắn liền với lễ hội và các hoạt động văn hóa dân gian khác.

Làng chạm bạc Đồng Xâm (Thái Bình) có tục thờ tổ nghề Nguyễn Kim Lâu, hàng năm vào ngày 5/1 âm lịch là ngày giỗ tổ nghề. Đúng ngày đó thợ Đồng Xâm dù làm ăn sinh sống ở đâu cũng phải về quê làm lễ tổ bằng chính sản phẩm độc đáo nhất mà mình làm ra trong năm. Tuy nhiên, tập tục này đến nay hầu như không còn nữa, có chăng chỉ được tổ chức nhỏ lẻ trong quy mô gia đình hoặc dòng tộc.

Bên cạnh đó, mặt trái của công nghiệp hóa hiện đại hóa làm xô lệch cả quy mô và tính chất sản xuất của các làng nghề. Các mặt hàng mới, các phương tiện kỹ thuật hiện đại nhanh chóng được áp dụng, nghệ nhân chạy theo thị hiếu nhất thời. Các doanh nghiệp phát triển tự phát, mạnh ai nấy làm, một sản phẩm bán chạy thì ngay lập tức có mặt ở khắp nơi với mẫu mã hao hao giống nhau, nhưng không thấy ai bị xử phạt.

Làm gốm thủ công
Làm gốm thủ công

Phát huy sức mạnh nội sinh

Việc bị mai một hay mất dần yếu tố bản sắc, bên cạnh những tác động của quá trình hội nhập, thì yếu tố văn hóa nội sinh ở các làng nghề cũng cần được chú trọng. Bản thân các làng nghề chưa thực sự “vặn mình” lên thay đổi để phù hợp với những buớc tiến của thời đại.

Trách nhiệm này trước hết thuộc về thế hệ các lớp nghệ nhân của làng nghề. Để gìn giữ và bảo tồn tinh hoa của giá trị văn hóa không chỉ cần sự tài hoa của các nghệ nhân, mà còn  đòi hỏi trách nhiệm cao, tâm huyết, đam mê và sự nhận thức.

Cơ quan quản lý cũng cần phải có những chính sách phù hợp, không những công nhận mà phải hỗ trợ, khuyến khích cho các nghệ nhân, để họ có một môi trường làm việc chuyên nghiệp, đảm bảo về phương diện kinh tế thì họ mới có cơ hội để trao truyền toàn bộ kinh nghiệm, những tâm huyết đam mê của mình vào nghề, vào sản phẩm.

Quá trình hội nhập chính là thời cơ để Việt Nam khơi lại sức sống làng nghề, để thế giới hiểu hơn về văn hóa Việt. Theo ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam, để lưu giữ và phát huy các giá trị văn hóa làng nghề, nên xem xét mở rộng chức năng văn hóa du lịch. Cần có chính sách khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi cho các nghề và làng nghề truyền thống phát triển bền vững như: tiếp cận vốn tín dụng, giảm thiểu các thủ tục, tăng cường cho vay tín chấp (do hội làng nghề bảo lãnh), giảm lãi suất…

Đã đến lúc phải đổi mới sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương để hỗ trợ các làng nghề. Giữa 7 bộ, ngành và 4 tổ chức chính trị - xã hội liên quan cần có chương trình ký kết thỏa thuận để thực hiện, triển khai các các văn bản, quy định của Thủ tướng Chính phủ liên quan đến làng nghề. Trong đó, lựa chọn một số ngành nghề trọng tâm còn nhiều vướng mắc để triển khai.

Trường Dung

;
.
.
.
.