Chuyện chuột trong tranh Đông Hồ - Nông Thôn Việt

Chuyện chuột trong tranh Đông Hồ

Thứ Ba, 04/02/2020, 09:49 [GMT+7]

Làng Đông Hồ, xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh có tên nôm là làng Mái. Dân làng bao đời nay vẫn tự hào:

Hỡi cô thắt lưng bao xanh

Có về làng Mái với anh thì về

Làng Mái có lịch có lề

Có sông tắm mát có nghề làm tranh.

Dân làng Mái trọng khí tiết và sống lịch duyệt. Họ sống trên kính dưới nhường, rất hiếm khi trong làng có tiếng người mắng chửi nhau. Ngay đến giọng nói cũng nhẹ nhàng thư thái. Thấy tôi tản bộ quanh sân, ông Nguyễn Đăng Chế ra chào: “Mời anh vào nhà xem các cháu làm tranh!”

Bước chân vào xưởng sản xuất tranh của gia đình ông Chế, tôi lập tức lạc vào cả một thế giới đa sắc của tranh Đông Hồ. Tranh treo đầy trên tường; kệ, tủ trưng bày đầy bản khắc; dưới sàn, chỗ người đang lạch cạch đục bản khắc, nơi người đang in tranh, chỗ thì người giới thiệu tranh, đóng gói tranh cho khách. Ai vào việc nấy, nhịp nhàng, rộn rã, vui tươi…

Quy trình làm tranh Đông Hồ gồm các công đoạn: ra mẫu, cắt ván, chuẩn bị nguyên vật liệu và in tranh. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm tận tình hướng dẫn tôi tự tay thực hiện từng công đoạn: đục bản khắc, hồ giấy dó, quét hồ điệp rồi tỉ mỉ in lần lượt năm màu cơ bản (trắng, đen, xanh dương có ánh xà cừ, bột vàng và bạc) để hoàn thiện một bức tranh Đám cưới chuột.

Anh Tâm cho biết, bản khắc tranh được làm bằng gỗ thị, gỗ vàng tâm, gỗ thừng mực. Để đục được một bản khắc kích cỡ trung bình, anh mất từ năm ngày đến sáu ngày. Trước đây gia đình anh chỉ đục bản khắc để in tranh, nhưng nay nhiều người thích sưu tầm bản khắc nên anh đục để bán luôn, giá bán một bản khắc tùy kích cỡ, từ 200.000 đồng/bản đến 5 triệu đồng/bản. Những bộ tranh bốn ván khắc độc đáo, khổ lớn thì anh phải đục một tháng mới xong, giá bán từ 10 triệu đồng/bộ đến 40 triệu đồng/bộ. Anh Nguyễn Ngọc Chiến, con rể ông Chế, vừa đều tay phết màu in tranh vừa cho tôi biết, mỗi ngày anh in được từ 200 lượt tranh đến 300 lượt tranh (in một màu), giá bán bức tranh nhỏ nhất là 50.000 đồng, bức lớn nhất là 200.000 đồng. Tranh của gia đình ông Chế được in bán tại chỗ và gửi bán khắp nơi. Tôi mua một bản khắc bức tranh Đám cưới chuột khổ 30cm x 40cm với giá 500.000 đồng.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm đang đục bản khắc tranh Đám cưới chuột. Để đục được một bản khắc kích cỡ trung bình, anh mất từ 5 đến 6 ngày.
Nghệ nhân Nguyễn Đăng Tâm đang đục bản khắc tranh Đám cưới chuột. Để đục được một bản khắc kích cỡ trung bình, anh mất từ 5 đến 6 ngày.

Ông Chế, 85 tuổi, tự hào khoe đang sở hữu hàng chục bộ tranh cổ hơn 100 tuổi như Thạch Sanh, Kiều, Phạm Công – Cúc Hoa… “Bộ Quang Trung – Nguyễn Huệ, hơn 100 tuổi, bốn bức, có người trả 2.500USD nhưng tôi không bán,” ông cười tươi tắn, tự hào.

Tranh Đông Hồ có được sức sống lâu bền và có sức cuốn hút đặc biệt với nhiều thế hệ người Việt Nam bởi những đề tài trên tranh phản ánh đậm chất cuộc sống mộc mạc, giản dị, gần gũi gắn liền với văn hóa dân tộc.

Mỗi bức tranh đều có tích, có tuồng và ẩn chứa những gửi gắm ước vọng của người làm. Đơn giản nhất là chuyện màu nền. Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế giải thích về ý nghĩa của việc dùng màu sắc sao cho phù hợp với mỗi đề tài khác nhau: nền màu đỏ để lột tả được cái nóng giận bực bội ngột ngạt; nền màu vàng cho cảnh vui tươi tràn ngập sắc xuân trên các bức tranh ngày Tết; nền màu hồng nhạt cho phong cảnh làng quê yên bình… Rồi ông nhẹ nhàng lật giở bức tranh Đám cưới chuột và giải thích cách cổ nhân phê phán tục quan liêu hối lộ.

“Tranh Đông Hồ đơn giản, mang tính ước lệ và tượng trưng, phóng khoáng và hài hước, người thoáng trông thì không chuẩn xác nhưng đến nhìn kỹ mới thấy nó rất người”, ông Nguyễn Đăng Chế đúc kết.

Đám cưới chuột thuộc thể loại tranh châm biếm của dòng tranh dân gian Đông Hồ. Nó phản ánh mối quan hệ giữa người dân và quan chức làng xã. Người nông dân nhiều khi bị áp bức, bị quan chức ức hiếp, đòi hối lộ. Vì thế các nghệ nhân mượn cảnh đám cưới chuột để nói về hình tượng tham nhũng, ăn hối lộ của mèo, mang tính chất phê phán nhẹ nhàng. Đôi khi bức tranh này lại có tên là Trạng chuột vinh quy. Dẫu là trạng nguyên vinh quy bái tổ, về làng vẫn phải có cảnh dâng cá chép cho con mèo đang chực chờ ở đầu làng thì mới được yên vì phép vua thua lệ làng.

Đội hình trong tranh Đám cưới chuột gồm hai hàng, hàng trên có bốn con chuột đang tiến đến trước mặt con mèo: con chuột già đi đầu, hai “tay” đưa con chim bồ câu ra dâng lễ nhưng sợ rụt cả cổ, cụp cả đuôi, co rúm người lại. Con chuột già thứ hai tuy đầu có ngẩng cao hơn nhưng vẫn khom cong lưng, hai “tay” run run, móng vuốt lóng ngóng, chỉ sợ tuột lễ vật cá chép là thứ mà mèo ta rất thích. Con chuột già thứ ba đang thổi kèn, mắt vẫn liếc xem thái độ của mèo già. Con thứ tư là chuột non cũng thổi loại kèn sâu, còng lưng, khúm núm. Những chữ Hán trên cùng, từ trái sang phải là: thủ thân (giữ thân), lão thử (chuột già), tác nhạc (chơi nhạc), giữa con chuột đi đầu và con mèo có chữ “tống lễ” (đưa lễ), phía góc phải là chữ “miêu” (mèo). Con mèo già được phóng đại thật lớn, ngồi chồm hỗm một phía, to hơn cả con ngựa ở góc phải hàng dưới. Con mèo già độc ác, tham lam được tạo hình bởi những nét vằn vặn vẹo, lắt nhắt, cộc cằn, giơ một “tay” trước đòi lễ, dáng vẻ toàn thân toát lên vẻ độc địa, bủn xỉn.

Tầng dưới là cảnh đón dâu với tám con chuột. Dẫn đầu là con chuột đực, đầu đội mũ cánh chuồn, mình mặc áo thụng xanh, chân đi hia, ngồi trên lưng con ngựa hồng, quay nhìn về phía sau vẻ mặt dương dương tự đắc vì đỗ tiến sĩ vinh quy lại cưới được vợ đẹp. Bên cạnh là chữ “giai tế”. Theo hầu phía sau là một con chuột đen cầm lọng và một con chuột khoang nửa đen nửa trắng cầm biển đề hai chữ “nghinh hôn”. Con cầm lọng vẻ mặt nghiêm trang, con cầm biển thì tinh nghịch quay đầu ra phía sau nhìn kiệu cô dâu. Bốn con chuột khác thì khiêng kiệu, hai con đi trước nhìn thẳng, hai con đi sau ngoái lại phía sau, vừa như hàm ý rằng đám rước còn dài, vừa như trông chừng xem có con mèo nào đuổi theo sau không. Cô dâu chuột ngồi trong kiệu cũng vấn khăn, mặc áo gấm xanh, ngắm chồng đang cưỡi ngựa đi phía trước với vẻ mãn nguyện, tự hào.

Một phiên bản khác của bức tranh này có tên là Mèo già hóa cáo. Một phiên bản khác nữa thì có tên là Chuột Tàu rước rồng vàng. Hai con chuột cầm sào nâng hình con rồng cao lên thụp xuống, một con cầm sào đính vào đầu rồng, một con cầm sào đính vào đuôi rồng. Nét trào phúng thể hiện ở những cái đuôi chuột dài, ám chỉ tóc tết đuôi sam của người Mãn Châu đang trị vì Trung Quốc mà những người Hoa “bài Thanh phục Minh” căm ghét.

Đám cưới chuột, Trạng chuột vinh quy, Chuột Tàu rước rồng vàng là những bức tranh vừa vui nhộn vừa có ý nghĩa châm biếm, đả kích sâu cay. Thế nên chúng được rất nhiều người yêu thích.

THẢO LƯ

;
.
.
.
.