Làng đúc đồng bên dòng Hương Giang - Nông Thôn Việt

Làng đúc đồng bên dòng Hương Giang

Thứ Hai, 07/09/2020, 14:09 [GMT+7]

Nghề đúc đồng là một trong những nghề thủ công truyền thống lâu đời và nổi tiếng ở Việt Nam. Trong đó, làng nghề đúc đồng Phường Đúc ở tỉnh Thừa Thiên Huế đã tồn tại hàng trăm năm, trở thành một trong những làng nghề đúc đồng tiêu biểu của nước ta.

Các sản phẩm từ đồng đã từng có thời kỳ rất được ưa chuộng, có mặt trong hầu khắp các gia đình Việt. Ngày nay, khi các sản phẩm hiện đại và tiện dụng dần “chiếm ngôi” các sản phẩm bằng đồng, nghề đúc đồng cũng vì thế mà dần bị mai một. Tuy nhiên, vẫn có những làng nghề nỗ lực thay đổi theo thị hiếu người tiêu dùng, phát triển thêm nhiều kỹ thuật mới, làm ra sản phẩm ngày càng tinh xảo, đẹp mắt, từ đó bảo tồn và phát triển được nghề đúc do ông cha truyền lại qua hàng trăm năm. Phường Đúc là một trong số những làng nghề như vậy

Từ trung tâm thành phố đến ga Huế, đi ngược đường Bùi Thị Xuân một đoạn ngắn, qua khỏi Cầu Lòn, bạn sẽ đến Phường Đúc - làng nghề đúc đồng truyền thống nổi tiếng của Huế, nằm phía hữu ngạn sông Hương. Xuất phát từ một quan xưởng đúc đồng thời chúa Nguyễn (thế kỷ XVII), nơi đây từng kiến tạo nên các tác phẩm đúc đồng nổi tiếng lưu danh sử sách. Kể từ sau năm 1945, quan xưởng này đã dần có sự chuyển biến để trở thành một ngôi làng trong phố vô cùng độc đáo với nghề đúc đồng đặc trưng xứ Huế.

 

Một xưởng đúc đồng ở Phường Đúc - Huế.
Một xưởng đúc đồng ở Phường Đúc - Huế.

Nổi tiếng đất Kinh sư

Dưới thời các chúa Nguyễn, và sau này, dưới thời quân chủ, dải đất phía Tây Nam Đô thành - Kinh thành Phú Xuân được cắt đặt làm đất quan phòng, vùng đất tiền án (vùng bảo vệ phía trước cổng chính) của kinh thành, do nhà nước trực tiếp quản lý, gắn chặt với trọng trách quốc phòng. Trên khu vực này, từ rất sớm đã hình thành nên công xưởng đúc đồng của các chúa Nguyễn với tên gọi là Chú Tượng Ty, tiền thân của làng đúc đồng Phường Đúc về sau.

Chú Tượng Ty là một trong nhiều tượng cục được thiết lập dưới thời các chúa Nguyễn. Nơi đây chuyên lo việc đúc súng, chú tạo các sản phẩm bằng đồng dùng trong nghi lễ lẫn đời sống sinh hoạt, đặc biệt chỉ dùng riêng trong phủ Chúa, sau này thì có sản xuất những bộ nồi đồng, cồng, chiêng phục vụ đời sống dân gian vùng Huế và các tỉnh lân cận. Sách Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn từng chép rằng: “Có Ty thợ đúc các cục, người Kinh 30 người, người Bản Bộ 30 người…”, hay “Họ Nguyễn trước mỗi năm đến ngày lễ sinh nhật, các quan ty thợ đều có tiền mừng… duy có ty thợ đúc, thợ Bản Bộ thì tiền một quan, ống nhổ thau lớn một chiếc, thợ người Kinh thì mỗi người năm tiền”. Ở đây, thợ người Kinh chính là Kinh Nhơn, một trong năm xóm thợ đúc của Phường Đúc hiện nay, bao gồm Giang Dinh, Giang Tiền, Kinh Nhơn, Bản Bộ, Trường Đồng. Năm xóm thợ đúc - dân gian Huế thường gọi là năm dãy thợ đúc, đó là nơi cư trú của những dòng họ, những người thợ mang theo tinh hoa nghề nghiệp từ đất Bắc, theo chân chúa Nguyễn vào Nam lập nghiệp.

Người thợ Phường Đúc chỉnh sửa khuôn.
Người thợ Phường Đúc chỉnh sửa khuôn.

Sau khi triều Nguyễn cáo chung, hệ thống tượng cục giải thể, những tay thợ lành nghề khắp nơi trong cả nước trước đây được triệu tập về kinh đô lại có cơ hội trở về cố hương. Trong bối cảnh đó, Chú Tượng Ty chuyên nghề đúc đồng cũng tan rã, một số trở về quê hương bản quán, số ở lại tiếp tục sinh cơ lập nghiệp. Phường Đúc ra đời từ đó, trên nền tảng chuyển hóa từ một quan xưởng nhà nước trở thành một làng quê, một làng nghề thủ công độc đáo trên đất Cố đô. Dòng họ Nguyễn xóm Kinh Nhơn đã ở lại để tiếp nối nghề nghiệp của cha ông, từ những lò đúc của các gia đình trong dòng họ, sinh hoạt của làng nghề dần đi vào quỹ đạo chung của những phường hội thủ công dân gian, tương tự như bao làng nghề thủ công khác ở Huế.

Trong quá khứ, với đôi bàn tay tài hoa của những người thợ biên chế trong Chú Tượng Ty - tiền thân của làng đúc đồng Phường Đúc, người dân Phường Đúc đã lưu dấu tên mình như là một trong những cộng đồng góp phần làm nên nét đặc trưng cho mảng văn hóa vật chất của Huế. Họ đã chế tác những hiện vật văn hóa đặc thù, mà ít nhiều trong số đó đã được công nhận là bảo vật quốc gia, như bộ Cửu đỉnh biểu trưng cho quyền lực trong thời hoàng kim của triều đại nhà Nguyễn, được đặt trước Thế Miếu; Cửu vị thần công quý giá hiện được trưng bày trang trọng hai bên Kỳ đài, trước cổng Ngọ Môn; nhiều vạc đồng, mâm đồng, cơi trầu… được dùng trong chốn cung nội. Những người thợ này cũng là tác giả của nhiều đại hồng chung nổi tiếng trong các ngôi quốc tự ở Huế và khắp cả nước...

Nghề đúc đồng là nghề lao khó, những người thợ đúc được ví như là những con người “ăn cơm dương gian, làm việc âm phủ”. Trong các khâu đoạn của nghề đúc, từ việc làm rập, làm khuôn (sú đất, làm bìa, giáp khuôn, thét khuôn, chèn khuôn, trổ điệu, bố khuôn), nhen lò, thổi cơi, ra cơi, đổ khuôn, ra khuôn, làm nguội... Mỗi công đoạn đều đòi hỏi sự kiên trì, tỉ mỉ, khéo léo của từng người thợ và sự phối hợp nhịp nhàng của nhiều bộ phận, dưới sự điều khiển của người thợ cả. Việc đúc ra một lửa trọi (sản phẩm đúc hoàn hảo, giống hệt mẫu rập) hay không trọi tùy thuộc vào kinh nghiệm của người thợ trong mỗi khâu đoạn cụ thể, đặc biệt là việc rót đồng nóng chảy vào khuôn.

Trong lịch sử Đàng Trong, khi cuộc chiến tranh Trịnh - Nguyễn (1627 - 1672) khởi phát thì sự xuất hiện của hai cha con thợ đúc người Bồ Đào Nha lai Ấn Độ Jean de la Croix ở Phường Đúc thời Sãi vương Nguyễn Phúc Nguyên (1563 - 1635) đã bổ sung nhiều công dụng, ưu thế kỹ thuật cho nghề đúc đồng Huế, đặc biệt là kỹ thuật đúc súng tân tiến của phương Tây. Có lẽ nhờ đó, người thợ đúc đồng Phường Đúc đã trở thành lớp người kế thừa một cách trọn vẹn các kỹ thuật này.

Hướng đi nào cho Phường Đúc?

Khi nhu cầu về những sản phẩm quân sự hay quốc kế dân sinh to lớn trong xã hội không còn như ở thời quân chủ, thì thế mạnh từ việc chú tạo những sản phẩm đậm tính lễ nghi truyền thống của Phường Đúc Huế lại được phát huy. Với sự hỗ trợ mạnh mẽ của thiết bị khoa học kỹ thuật theo hướng công nghiệp hóa, nghệ nhân thời nay thảnh thơi hơn, xác suất thành công cho những lửa trọi nhiều hơn. Phường Đúc hiện nay đặc biệt nổi tiếng với hệ sản phẩm phục vụ nghi lễ và đời sống tôn giáo tín ngưỡng, tiêu biểu như các sản phẩm chuông, tượng, độc lư, những bộ tam sự, ngũ sự trên bàn thờ gia tiên… Để đáp ứng nhu cầu của thị trường, người thợ Phường Đúc đã bổ sung vào nguồn nguyên liệu của mình những hợp kim gang và nhôm, Bên cạnh những mặt hàng thủ công truyền thống đậm chất lễ nghi, họ cũng sáng tạo nhiều loại hình sản phẩm mới.

Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là sự khan hiếm nguồn nguyên liệu, sự thay thế của những vật dụng có cùng chức năng, lẫn những trói buộc của truyền thống, vấn nạn hàng giả, ăn cắp bản quyền… đã làm cho Phường Đúc có phần mai một. Thống kê sơ bộ cho thấy ở Phường Đúc hiện nay có khoảng 30 cơ sở đúc, nhưng chỉ có khoảng 1/3 số đó còn hoạt động (nhiều tầng mức khác nhau), còn lại thì rơi vào tình trạng sản xuất cầm chừng hoặc đóng lò. Những cơ sở sản xuất các sản phẩm đúc mỹ nghệ phục vụ du lịch vẫn còn, nhưng khả năng tiêu thụ quá thấp đã làm nản lòng người thợ. Song hành cùng câu chuyện giá thành khó lòng đối sánh với những mặt hàng khác tương tự đến từ Trung Quốc, là vấn đề bản quyền mẫu mã.

Công việc cố định khuôn đổ cần nhiều người và đảm bảo độ chính xác.
Công việc cố định khuôn đổ cần nhiều người và đảm bảo độ chính xác.

Việc tìm kiếm một hướng đi phù hợp cho Phường Đúc hiện nay không đơn giản, nhưng nếu đặt ngôi làng này trong mối quan hệ khăng khít với đô thị di sản Huế - Thành phố Du lịch - Thành phố Festival với sự tương hỗ hợp lý từ chính quyền địa phương, thì lối mở tương lai hoàn toàn tùy thuộc vào làng nghề. Để có thể gạt bỏ những rào cản về giá thành sản phẩm, người thợ cần sáng tạo nhiều mẫu mã sản phẩm phù hợp với những bộ tiêu chí nhận diện mà chính quyền thành phố đề ra trong mỗi dịp lễ hội, mỗi kỳ Festival. Việc đăng ký bản quyền, bảo hộ thương hiệu, chống hàng giả, hàng nhái… cần được nhanh chóng thực hiện nhất quán, nhất là trong chiến lược hỗ trợ, phát triển ngành nghề thủ công của tỉnh và Thành phố Huế.

Muốn giới thiệu, quảng bá truyền thống đặc biệt của ngôi làng cổ xưa, độc đáo này đến đông đảo cộng đồng dân cư, nhất là du khách, việc hình thành một bảo tàng nghề đúc trên địa bàn Phường Đúc là rất cần thiết. Vấn đề này không quá khó khăn, vì có thể sử dụng tối đa không gian của Trung tâm Giới thiệu Sản phẩm Làng nghề Đúc đồng. Bảo tàng sẽ là nơi cung cấp thông tin cần thiết cho du khách về lịch sử - văn hóa của làng nghề thông qua các bộ sưu tập dụng cụ và sản phẩm truyền thống nổi tiếng của nghề đúc, sa bàn làng nghề hoặc mô hình một số khâu đoạn trong quy trình đúc, những không gian tâm linh gắn với nghề đúc được tái hiện như bàn thờ tổ nghề, các sắc phong được ban tặng dưới thời quân chủ...

Du lịch trải nghiệm hiện nay là loại hình thu hút nhiều bộ phận du khách. Vì thế việc kết nối với những văn phòng du lịch, những tua, tuyến hiện có trong việc đưa du khách đến làng nghề, tham gia trải nghiệm vào một hoặc nhiều khâu trong quy trình đúc đồng sẽ mang lại hiệu quả thiết thực trong việc tiêu thụ sản phẩm.

Gánh trên vai một truyền thống lẫy lừng, một quá khứ vàng son dưới thời quân chủ, nghệ nhân Phường Đúc thủ đắc những tuyệt kỹ nghề đã để lại dấu ấn của mình trên bản đồ các làng nghề đúc đồng trong cả nước bằng những sản phẩm bao chứa nhiều giá trị đặc trưng, mang đậm giá trị kỹ thuật và mỹ thuật, đáp ứng nhu cầu đời sống tinh thần của một cộng đồng cư dân rộng lớn. Họ cần sự hỗ trợ đúng hướng và đúng mức để có thể hoàn thành tâm niệm tiếp nối, quang dương nghề nghiệp của cha ông…

 TS.TRẦN ĐÌNH HẰNG

;
.
.
.
.