Những lò gạch xưa trong nắng chiều - Nông Thôn Việt

Những lò gạch xưa trong nắng chiều

Thứ Sáu, 13/11/2020, 10:02 [GMT+7]

Ngồi trên máy bay ngang qua bầu trời Nam bộ, nếu gặp trời quang sẽ thấy phía dưới mặt đất cây trái bạt ngàn xanh, sông nước uốn lượn, nhà cửa đan xen và những cụm tháp nâu đỏ nổi bật. Nhìn bằng ống nhòm, bạn sẽ tưởng là cố đô Mandalay (Myanmar). Riêng tôi, khi nhận lời tư vấn du lịch Đồng Tháp vào cuối năm 2016, tôi đã có dịp mục sở thị và đã ngỡ ngàng như bị thôi miên bởi sự kỳ bí và mê hoặc của những lò gạch hoang.

 

Một góc làng lò gạch An Hiệp.
Một góc làng lò gạch An Hiệp.

Đi tìm nguồn cội

Chưa ai biết kỹ thuật xây lò nung gạch có từ bao giờ, xuất phát ở đâu. Chỉ biết, lò xây bằng gạch làm từ đất sét nung. Di chỉ khảo cổ gạch được phát hiện ở nhiều nơi, xưa nhất là khu vực gần sông Tigris (Trung Đông), 7.500 trước Công nguyên.

Đất sét trộn nước, nhồi nhuyễn, đưa vào khuôn đóng thành viên có màu nâu xám, phơi nắng cho khô rồi chất vào lò, đốt bằng củi hoặc than, trấu, khí đốt… suốt nhiều giờ. Khi “chín”, gạch sẽ chuyển sang màu đỏ hoặc nâu sẫm. Trải mấy ngàn năm, hình dạng gạch không đổi, ban đầu là gạch chỉ, còn gọi là gạch thẻ (đặc), sau này có thêm gạch tàu (vuông), gạch ống.

Khá nhiều người Việt chỉ biết lò gạch qua chuyện tình Chí Phèo và Thị Nở của Nam Cao, hoặc qua thông tin, hình ảnh trên các phương tiện truyền thông. Chẳng hạn trước khách sạn Pullman 5 sao (Hà Nội), còn giữ lại ống khói gạch ngất ngưởng của nhà máy đóng gạch Đại La; ở Long An có lò gạch Võ Công Tồn (1841 - 1942), cơ sở kinh tài cách mạng trước 1945, là di tích quốc gia…

Trong thực tế, khắp Nam bộ tỉnh nào cũng có những lò gạch truyền thống, hình tròn, mái vòm với các thông số thường tròn 9: đường kính lọt lòng từ 6,3 - 8,1m, cao từ 9 - 13,5m. Tường lò dày khoảng 1,8m (phần dưới) - 0,9m (phần đỉnh). Thời trước, vận chuyển đường thủy là thuận tiện và rẻ nhất nên các lò gạch đều nằm ven các sông lớn. Lò gạch Nam bộ có từ thời mở đất, cha truyền con nối, dịch chuyển theo dòng đời. Những lò gạch tạo công ăn việc làm, giải quyết sinh kế cho hàng chục ngàn hộ gia đình, nhiều người đã ăn học thành tài nhờ những lò gạch. Cùng cây lúa cũng như các loại cá tôm và trái cây, những lò gạch đã góp phần phát triển kinh tế vùng.

Lò gạch cũ cỏ trùm ma mị.
Lò gạch cũ cỏ trùm ma mị.

Cả trăm năm trước, các lò gạch tại An Hiệp (Châu Thành, Đồng Tháp) tập trung một bên sông Sa Đéc. Sau thập niên 1970 thì các lò này chuyển dần sang bên kia sông, hàng trăm lò san sát. Lúc cao điểm, ở đây có hàng ngàn công nhân làm việc, nhộn nhịp hơn cả công xưởng. Thời hoàng kim, các lò này có thợ chuyên nghiệp, nhưng hiện nay chỉ còn thời vụ. Kỹ thuật làm gạch cũng không quá phức tạp, chỉ vài buổi thực hành là có thể thành thạo. Thời bấy giờ trẻ em cũng tham gia đỡ đần cha mẹ làm gạch.

Nguyên liệu làm gạch là đất sét phiến, loại đất này có khắp nơi. Người ta có câu “Nhất thủy phá, nhì ruộng cao”, thủy phá là các loại đất lở ven sông, trong đất có các thành phần Silica 50 - 60% (cát), Alumina 20 - 30% (sét), Oxit sắt (không quá 7%), Vôi (dưới 5%), Magie (dưới 1%). Thợ chính dùng mắt và tay chọn đất, không cần máy móc đo đạc. Đất này được chở theo đường thủy, chuyển lên bờ bằng sức người, rồi đạp và nện bằng chân tay. Khi đất đạt độ nhuyễn nhất định, người ta cắt thành viên, phơi khô, xếp vào lò nung. Trước mọi việc đều làm thủ công, nhưng nay thì toàn bộ các khâu từ xúc, cạp đất, chuyển đất lên bờ cho đến việc đạp nện và đúc khuôn từng loại gạch… đều có máy móc hỗ trợ.

Xây dựng lò gạch phải có tay nghề và phải chọn ngày khởi công, chọn thợ, chọn hướng. Tùy lò, sẽ có khoảng 20 - 30 thợ làm việc cật lực từ 15 - 20 ngày, dùng từ 200.000 - 250.000 viên gạch/mỗi lò. Lò này nung gạch ống thì số lượng sẽ tương đương số lượng gạch xây lò, còn gạch thẻ thì nung được gấp rưỡi trở lên. Lò gạch Nam bộ thường đốt bằng trấu, vì rẻ. Gạch ống đốt khoảng 45 ngày đêm, gạch thẻ là 70 ngày đêm, còn gạch tàu là 90 ngày đêm. Khi nung, miệng lò bít kín, chỉ có các lỗ thoát khí nhỏ, độ nóng lên dần 2.500 - 2.8000C, bỏ xa độ nóng các loại khí đốt. Do vậy, chất lượng gạch thủ công ăn đứt lò tuynel đốt khí. Mới đốt, khói lò màu trắng, chuyển dần thành đen. Lò đốt xong, để nguội 10 ngày (gạch ống) - 30 ngày (gạch tàu) mới mở lò, xuất xưởng. Thương lái đến chở gạch tiêu thụ khắp nước và cả xuất khẩu. Người ta dọn tro trấu đóng bao, bán cho nhà vườn, vệ sinh lò và tiếp tục quy trình mới. Do sản xuất thủ công, hàm lượng các loại khí độc như HF (axit florhydric), NO2 (nitrogen dioxit), SO2 (sunfua dioxit), CO (cacbon monoxit)... gấp hàng chục lần ngưỡng bình thường. Con người và cỏ cây đều bị ảnh hưởng.

Suy thoái và xóa sổ

Ngày 01/08/2001, Thủ tướng Chính phủ ra Nghị định 115/2001/QĐTT, “Đến năm 2010 phải xóa hết các lò gạch thủ công ô nhiễm”. Cùng với đó, công nghiệp làm than trấu (tốt hơn than củi) ra đời, giá trấu tăng vùn vụt, các lò gạch thủ công hoạt động ngày càng khó. Giá xăng dầu, nhân công tăng, giá bán gạch đuổi không kịp. “Bỏ thương, vương tội”, nhiều chủ lò không có lãi nhưng vẫn cố duy trì sản xuất, vì nhớ nghề và chưa biết chuyển qua nghề gì. Thay bằng lò tuynel hay sản xuất gạch không nung thì thiếu vốn, thiếu kỹ thuật. Chưa kể, chất lượng gạch không thể sánh với sản xuất thủ công. Nhà nước hỗ trợ việc tháo dỡ mỗi lò 10 triệu, chẳng bõ bèn gì với công sức vốn liếng bỏ ra trên trăm triệu làm lò. Nhưng không đập phá thì để làm gì? Một số lò gạch cũ có thương lái mua lại cả chục triệu mỗi lò để tháo dỡ lấy gạch cổ. Nhiều chủ lò gạt nước mắt, dỡ lò bán rồi chuyển nghề, cũng không hiếm chủ lò chần chừ vì tiếc nuối.

Lò gạch có dây leo Thạch Sanh
Lò gạch có dây leo  như trong truyện cổ Thạch Sanh.

Khi đến những lò gạch hoang An Hiệp, tôi bị “đứng hình” trước hấp lực của những lò gạch hoang, cỏ dại um tùm, dây leo trùm ma mị, có khi thân dây leo bò từ đỉnh xuống đất như dây thừng Thạch Sanh cứu công chúa trong truyện cổ tích. Bước vào trong lò, tôi giật mình vì hình ảnh tương đồng của lò với các tháp Chàm ngàn năm tuổi và những tháp cổ quần thể Sambor Preikuk (Kampong Thom, Campuchia), di sản thế giới, kinh đô đế chế Khmer thế kỷ VI - VIII. Chỉ khác là tháp Chàm, tháp cổ hình vuông hoặc chữ nhật, còn lò gạch thì hình tròn. Tôi vội vàng liên hệ lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp, đề nghị dừng chỉ thị tháo dỡ các lò gạch, vì đó chính là “báu vật du lịch”. Tôi nhớ khi đó cụm Châu Thành có nơi vẫn còn tập trung trên 50 lò gạch, nhiều ý tưởng táo bạo được đề xuất. Khách Tây, khách phượt tình cờ ghé qua đều mê tít, xúm nhau “selfie” rồi tung lên mạng, bạn bè mắt tròn mắt dẹt ngạc nhiên, vì khắp thế giới không đâu có những làng tháp như vậy. Thế là Đồng Tháp đã dừng chủ trương đồng loạt xóa sổ các lò gạch cũ, dự kiến giữ mấy chục lò gạch hoang ở An Hiệp lại để làm du lịch.

Tuy nhiên mới đây, hậu dịch Covid-19, tôi về lại An Hiệp và không khỏi tiếc hùi hụi vì làng lò gạch nay chỉ còn mươi cái. Vì nhiều lý do, dự án vẫn chưa triển khai được, người dân đành đứt ruột tháo dỡ, lấy gạch cũ bán, gỡ gạc phần nào. May có một doanh nghiệp du lịch tận Đà Lạt tìm về mua hết số lò sót lại để bảo tồn, cứu làng lò gạch không bị khai tử.

Tôi bần thần đứng giữa những lò gạch hoang, nghe gió se sắt trong nắng chiều tím nhẹ, lòng buồn tênh vì không biết làm sao để cứu hết các lò gạch di sản…

NGUYỄN VĂN MỸ - Chủ tịch Lửa Việt Tours

;
.
.
.
.