Đánh thức tài nguyên thực vật bản địa - Nông Thôn Việt

Đánh thức tài nguyên thực vật bản địa

Thứ Sáu, 25/12/2020, 18:30 [GMT+7]

Trên dải đất hình chữ S của chúng ta, 54 dân tộc anh em sở hữu cả trăm, cả ngàn bí quyết nhuộm vải bằng thuốc nhuộm làm từ cây cỏ thiên nhiên. Ẩn sau mỗi màu vải là sinh cảnh, là tri thức bản địa độc đáo của mỗi cộng đồng.

 

Làng Nha Xá hiện có gần 400 máy dệt với sản lượng 30.000 - 40.000m vải/tháng.
Làng Nha Xá hiện có gần 400 máy dệt với sản lượng 30.000 - 40.000m vải/tháng.

1. Trước đây, người Việt ở làng Nha Xá (xã Mộc Nam, huyện Duy Tiên, tỉnh Hà Nam) dùng các nguyên liệu lấy từ thiên nhiên như vỏ cây, lá cây, các loại củ như củ nâu… để nhuộm vải. Để nhuộm 100m vải, người ta cần khoảng 2g thuốc nhuộm trong nhiệt độ 1000C và khoảng 30 phút để thuốc ngấm đều lên vải. Bí quyết ở đây là cho hạt cau vào nấu với nước nhuộm để giúp màu bám tốt trên lụa.

Ngược lên miền Tây Bắc núi ngút ngàn trùng xa, ta sẽ gặp những phụ nữ dân tộc Thái vẫn duy trì trang phục truyền thống trong cuộc sống thường nhật. Người dân tộc Thái được đánh giá cao về sự tinh tế và khéo léo thể hiện trên những họa đồ trang trí cho piêu, khít và một số sản phẩm thổ cẩm. Nghề dệt của người Thái rất nổi tiếng, trẻ em gái từ 6 - 7 tuổi đã được bà, mẹ dạy cách trồng bông dệt vải và làm piêu. Có lẽ vì vậy mà tri thức và kinh nghiệm của họ trong việc nhuộm vải rất đặc sắc. Người Thái cũng xem những vật phẩm thổ cẩm là không thể thiếu trong cuộc sống thường ngày, đặc biệt trong những ngày lễ, ngày hội của bản làng hay trong ngày vui của đôi lứa. Vì thế mỗi đường nét thêu trên mảnh vải thắm đượm tình yêu lao động, yêu quê hương.

Hoa Tiến là một bản nhỏ xinh đẹp của người Thái đỏ ở xã Châu Tiến, huyện Quỳ Châu, tỉnh Nghệ An. Hơn 100 năm nay, nơi đây được mệnh danh là một trong những cái nôi dệt thêu thổ cẩm nổi tiếng và lâu đời bậc nhất của người Thái ở tỉnh Nghệ An. Kỹ thuật nhuộm chàm của người Thái đỏ ở đây cũng rất độc đáo. Chị Sầm Thị Tình, nghệ nhân dệt thổ cẩm nổi tiếng của người Thái ở bản Hoa Tiến, cho biết màu chàm để nhuộm thổ cẩm của người Thái được làm từ cây chàm. Sau khi thu hoạch và xử lí, chàm được ngâm 49 ngày rồi hòa với nước tro để nhuộm. Trong thời gian ngâm chàm phải canh chừng cẩn thận, không để chàm “chết”, vì khi đó nhúng vải vào sẽ chẳng ăn màu được. Chàm cũng chỉ nhuộm được vải làm từ sợi tự nhiên như bông, tơ, lanh thôi.

Ủ chàm khó, nhưng nhuộm vải lại khá dễ dàng, chỉ cần nhúng và đảo cho vải ngấm đều màu rồi đem phơi. Nhưng nhớ là không được phơi quá nắng làm cháy chàm thì vải sẽ đen xì. Vải phơi xong vẫn còn dính chàm, tro nên phải đem giặt lại cho sạch, mà phải giặt tay bằng sữa tắm hoặc dầu gội đầu chứ không được giặt máy với xà phòng. Giặt xong đem phơi lần cuối, chờ vải khô thì đập cho đến khi mình vải dịu lại mới thôi.

2. Số loài cây nhuộm màu truyền thống được người dân tộc thiểu số ở miền núi phía Bắc thường xuyên sử dụng để tạo màu cho món ăn, nước uống và vải sợi là 62 loài. Ví dụ như người Tày - Nùng (Lạng Sơn) có 38 loài cây, người Dao (Lào Cai) có 22, người H’mông (Lào Cai) 16, người Giáy (Lào Cai) 24, người Lào (Lai Châu, Điện Biên, Sơn La) 9 loài…

Không chỉ sử dụng nguồn tài nguyên thực vật phong phú, các cộng đồng người ở Việt Nam còn có cả một kho tàng tri thức phong phú về nghề nhuộm. Chị Lò Thị Phanh, người dân tộc Lào ở xã Mường Và (huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La) cho biết nhuộm chàm cũng như muối dưa, có người nhuộm đẹp, có người thì cứ nhuộm là hỏng. Với người Tày, muốn cho vải bền màu, họ dùng vỏ cây nghiến, củ nâu trộn đều, giã nhỏ, rang khô rồi hòa vào nước tro bếp đun đặc rồi cho vải vào nhúng kỹ, ngâm ngập từ 15 - 20 phút. Sau đó họ vớt vải ra đặt lên máng gỗ to để nước chàm chảy lại vào thùng, khi vải ráo nước thì mang phơi khô trong bóng râm, thoáng mát. Làm liên tục như vậy khoảng 10 lần. Bảng màu của người Tày ở huyện Na Hang, tỉnh Tuyên Quang phổ biến là màu chàm (xanh chàm, chàm đen, chàm tím than), xanh lam, hồng nhạt, tím nhạt, nâu non…

Các dân tộc ở Tây nguyên hầu như đều sử dụng bốn màu chủ yếu là đen (hoặc chàm) để làm nền vải và màu trắng, đỏ, vàng dùng đan cài các loại hoa văn. Màu đen, màu chàm tượng trưng cho đất đai, nuôi dưỡng và gắn bó cả đời người. Màu đỏ là lửa, máu, sự sống, khát vọng, đam mê. Màu vàng là ánh mặt trời, sự kết hợp hài hòa giữa con người và tự nhiên. Linh Nga Niê Kdam (2010) đã thống kê các tộc người ở Tây nguyên sử dụng 25 loài thực vật để nhuộm vải. Màu đen lấy từ một loại lá rừng mà người Jrai gọi là phun mo hoặc krum, hnung… đem về ngâm nhiều ngày trong nồi lớn với tro của cây le và vôi, sau đó vớt bỏ bã, ngâm thêm 3 ngày 3 đêm sẽ có màu đen rất bền để nhuộm. Để có màu đỏ, người Bahnar Rngao dùng cây kxan, cây loang nhau đập dập hoặc băm nhỏ, ngâm nước 5-7 ngày, trộn với vôi bột. Người K’ho dùng cây rmit để chế màu vàng nhuộm… Để bền màu, các tộc người ở đây dùng vỏ ốc, vôi bột, vỏ cây alio, bùn, tro bếp… hòa với nước nhuộm.

Nhiều thực vật được nấu lên để tạo màu cho nước nhuộm vải.
Nhiều thực vật được nấu lên để tạo màu cho nước nhuộm vải.

3. Trong xu thế thời trang chậm, hiện nay ở Việt Nam đã có rất nhiều người tận dụng tri thức bản địa, nguồn tài nguyên thực vật bản địa để dệt vải, nhuộm màu. Đào Thị Ngọc Thu, là người Ninh Bình nhưng rất tâm huyết và đam mê phát triển cộng đồng ở xã Pà Cò, Hang Kia… - những xã khó khăn nhất của huyện Mai Châu, tỉnh Hòa Bình. Nguyên do là Thu tình cờ biết người dân tộc Hmông đỏ, Hmông xanh ở đây vẫn trồng lanh, dệt vải, nhuộm chàm để làm trang phục như truyền thống hàng trăm năm nay, nên Thu đã hỗ trợ họ thiết kế mẫu mã, đa dạng hóa sản phẩm để bán cho du khách đến tham quan bản làng, đồng thời còn xuất đi nhiều nơi trong nước, ngoài nước. Đáng nói, trong những lần điền dã tìm cây thuốc đông y ở đây, cô giám đốc Công ty TNHH dược liệu Tràng An nhận thấy có rất nhiều thảo dược dùng để nhuộm màu mà người dân không biết cách sử dụng. Vậy là cô hướng dẫn nghệ nhân Sùng Y A, Mùa Y Máy, Sùng Y Dớ… ở bản Trà Đáy, xã Pà Cò cách lấy thảo dược, chế biến thuốc nhuộm và nhuộm màu vải lanh, lụa tơ tằm.

Với hy vọng sẽ dần dần thay thế phần nào thuốc nhuộm tổng hợp trong ngành công nghiệp dệt may, mang đến cho người tiêu dùng những sản phẩm thời trang chất lượng, an toàn và thoải mái khi sử dụng, thương hiệu thời trang ECOL đã ra đời. Đây là kết quả hợp tác của PGS.TS Hoàng Thị Lĩnh và các cộng sự cùng Công ty TNHH Dệt - Nhuộm Trung Thư - Hưng Yên. Đây được xem là thương hiệu của dòng sản phẩm xanh, sản phẩm sinh thái.

Hiện tại, nhu cầu sử dụng vải tự nhiên và thời trang sinh thái đang tăng cao trên toàn thế giới. Nhóm nghiên cứu đang trăn trở tìm cách tiếp tục phát triển hình thức nhuộm này trên quy mô công nghiệp như thế nào để tận thu được nguồn nguyên liệu chất màu tự nhiên dễ tái sinh.

Thống kê của Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên thế giới (IUCN) cho thấy, hệ thực vật Việt Nam có hơn 12.000 loài, trong đó nhóm cây nhuộm màu có khoảng 200 loài. Đặc biệt, có 48 loài thuộc 27 họ thường được người dân tộc miền núi phía Bắc dùng để nhuộm màu quần áo, thực phẩm bằng những kinh nghiệm độc đáo mang đậm bản sắc tộc người như cây mật mông cho màu vàng; cây chàm mèo cho màu xanh lam; cây cẩm cho màu tím, màu đỏ; lá dứa và rau khúc cho màu xanh lá cây; củ nâu cho màu nâu; lá và dây cây mơ leo cho màu xanh rêu…

 

BẰNG VÂN

;
.
.
.
.