Tranh dân gian lưu giữ cội nguồn văn hóa Việt - Nông Thôn Việt

Tranh dân gian lưu giữ cội nguồn văn hóa Việt

Thứ Hai, 01/02/2021, 17:48 [GMT+7]

Tranh dân gian là một trong những phương tiện hiệu quả để thể hiện và lưu giữ giá trị văn hóa của dân tộc. Từng đường nét, chủ đề trên tranh tái hiện một cách rõ ràng, duyên dáng về đời sống, tâm tư, tình cảm của con người trong một thời kỳ nhất định.

 

Là một quốc gia nghìn năm văn hiến, chúng ta tự hào khi có được những dòng tranh dân gian lâu đời, mang tính thẩm mỹ và ứng dụng cao. Tạp chí Nông thôn Việt mời bạn đọc cùng tìm hiểu về một số loại tranh dân gian Việt đã tạo được tiếng vang qua nhiều thế kỷ cho đến tận ngày nay.

Tranh Kim Hoàng

Cùng với tranh Đông Hồ, tranh Hàng Trống, tranh Kim Hoàng vốn là dòng tranh Tết nổi tiếng của Kinh Kỳ. Tranh Kim Hoàng ra đời từ thế kỉ XVIII, bắt nguồn từ làng Kim Hoàng, xã Vân Canh, huyện Hoài Đức (Hà Nội). Các cụ ở làng kể lại rằng dòng tranh này do ông Nguyễn Sỹ ở Thanh Hóa ra Thăng Long lập nghiệp ở làng Kim Hoàng sáng tạo ra, với mong muốn có một dòng tranh mới, phù hợp với nông dân cả về thẩm mỹ và túi tiền. Thế rồi, dần dần, tranh Kim Hoàng được tổ chức thành một “phường tranh”, thu hút cả làng vào công việc này.

Điều khác biệt chỉ tranh Kim Hoàng có mà tranh Hàng Trống hay tranh Đông Hồ không có, đó là trên góc tranh Kim Hoàng có đề thơ và bùa trấn tà ma, nên thường được dùng trang hoàng nhà cửa đầu năm mới. Người làng Kim Hoàng dùng giấy đỏ, giấy hồng điều hoặc giấy vàng tàu làm chất liệu vẽ tranh và dùng các sắc hồng điều, đỏ cam, đỏ son, vàng yến… hết sức rực rỡ để làm nền, tạo nên một vẻ tươi thắm rất riêng. Cũng vì màu giấy đỏ ấy mà tranh Kim Hoàng còn được dân gian gọi là tranh Đỏ.

Tranh Kim Hoàng không dùng màu phẩm, chất liệu phổ biến là mực tàu và các loại màu sắc có nguồn gốc tự nhiên, được trộn với chất kết dính là keo da trâu. Màu trắng tạo ra từ thạch cao, màu xanh chàm từ mực tàu hòa với nước chàm, màu đỏ lấy từ đất son, màu đen từ tro rơm rạ, màu xanh từ gỉ đồng, màu vàng từ nước ép của hạt cây dành dành…

Những ngày giáp Tết xưa, không khí làm tranh nhộn nhịp khắp làng. Ban ngày mọi người làm việc tất bật rồi tối đến lại chong đèn mà chấm phẩm, đến khoảng rằm tháng Chạp thì mang tranh đi các vùng bán. Thời hoàng kim của dòng tranh này ước tính kéo dài được khoảng 100 năm. Đến năm Ất Mão đời Duy Tân (1915), xảy ra trận lụt lớn do vỡ đê Hoàng Mạc (huyện Từ Liêm), nước cuốn trôi khá nhiều ván in, nghề làm tranh Kim Hoàng từ đó suy giảm, chỉ còn lác đác vài hộ duy trì rồi sau đó biến mất hoàn toàn trong hơn 7 thập kỷ. Từ những nét tinh tế thanh nhã còn lưu nguyên vẹn trong tấm ván in duy nhất sót lại, hiện được trưng bày ở Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, tranh Kim Hoàng nổi bật với nét bút vừa phóng khoáng khỏe khoắn vừa đơn giản khúc chiết. Đồng thời, cách thể hiện cùng một chủ đề, nhưng mang tính hình tượng hóa, cách điệu nhiều hơn hẳn so với dòng tranh dân gian khác.

Có lẽ tranh Kim Hoàng sẽ vĩnh viễn biến mất theo thời gian nếu không được Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thu Hòa - Giám đốc Bảo tàng Gốm sứ Hà Nội dày công hồi sinh sau bao khó khăn, thử thách. Tuy vậy, hiện tại loại tranh này cũng chỉ sản xuất được số lượng ít, chưa đủ phục vụ nhu cầu thị trường, nhất là vào dịp Tết. Chị Hòa cũng đang đồng thời nghiên cứu ứng dụng họa tiết tranh Kim Hoàng lên các chất liệu khác nhau từ thanh chặn giấy, lịch để bàn, bao lì xì, gốm sứ, vải vóc thời trang…

Ông Hồ Văn Tài là nghệ nhân cuối cùng còn làm nghề tranh gói vải.
Ông Hồ Văn Tài là nghệ nhân cuối cùng còn làm nghề tranh gói vải.

Tranh gói vải

Tranh gói vải là loại tranh tạo hình nổi bằng chất liệu vải trên nền giấy bìa cứng, được ông Trần Văn Huy (hiệu là Thủy Tiên) sáng lập và khởi nghiệp từ Sa Đéc xưa. Tuy chỉ có trên 70 năm tuổi, không lâu đời như các loại tranh dân gian khác, tranh gói vải vẫn khẳng định được chỗ đứng của mình trong đời sống dân gian Nam bộ.

Thuở ban đầu của tranh gói vải chỉ là sáng kiến của ông Thủy Tiên khi thay hình dán giấy bằng vải hoặc lụa trên những tấm trướng phúng viếng đám tang. Dần dà, ông Thủy Tiên nâng cấp thành một dòng tranh để phục vụ bà con chủ yếu trong thờ cúng. Càng về sau, tranh gói vải lại càng phát triển khi có tranh phong cảnh, tranh thế sự, chúc tụng… để phục vụ nhu cầu làm quà hiếu hỉ của bà con. Sự hấp dẫn kỳ thú của dòng tranh này nhanh chóng lan tỏa khi ông Thủy Tiên được Bộ Kinh tế thời đó cấp bằng sáng chế.

Với tranh gói vải, người chế tác sẽ phác họa chân dung người, cây cỏ bằng nét vẽ rồi dùng bông gòn tạo hình trên giấy bìa cứng, sau đó dùng vải phủ lên và tạo nếp. Do kết hợp hài hòa giữa đường vải, bột màu, bố cục vẽ nên tranh gói vải tả thật, sống động. Các cụ hồi xưa thích hình thờ làm bằng tranh gói vải vì nhìn có thần, lại sang trọng, đẹp mắt…

Dòng tranh này hưng thịnh ở miền Tây Nam bộ từ thập niên 50 - 60 của thế kỷ XX, thế nhưng truyền nhân rất ít. Bởi ngoài đam mê, tỉ mẩn, thì sự sáng tạo của người thợ mới giữ vai trò then chốt. Vì khó sống được với nghề làm tranh gói vải nên rất nhiều người theo học nhưng hiếm ai trụ lại với nghề. Hiện nay chỉ còn nghệ nhân cuối cùng làm tranh gói vải là ông Hồ Văn Tai (84 tuổi, ngụ xã Tân Phú Trung, huyện Châu Thành, tỉnh Đồng Tháp).

Tranh Thập vật

Tranh Thập vật là loại tranh phổ biến trong các chùa vùng Bắc bộ trước những năm 1960, thể hiện nét tâm linh một thời của người Việt: người đã mất sang thế giới bên kia vẫn được thân nhân lo chu toàn đời sống gồm đủ cả trang phục, vật dụng hàng ngày, thậm chí có cả con vật để cưỡi và lính hầu.

Tranh Thập vật là dòng tranh dân gian chỉ có nội dung thuộc về tâm linh, thường có khổ tranh nhỏ, rộng khoảng 1 - 2 bàn tay, dùng để đốt cho người đã khuất khi khấn cúng chứ không có dạng tranh treo để trang trí. Dòng tranh này có cách biểu đạt tối thiểu: tranh được khắc rồi in chỉ mỗi nét đen trên giấy dó hay giấy bản. Mỗi bức tranh đều có một câu chuyện riêng, thể hiện nhân sinh quan của người Việt xưa. Chính vì bị “ép” trong khuôn tối thiểu mà các tác giả phải vận dụng hết khả năng sáng tạo để đảm bảo nội dung cần thể hiện mà vẫn hấp dẫn.

Tranh Thập vật dần rơi vào quên lãng từ thập niên 60 của thế kỷ XX do các chuyển biến về tín ngưỡng và cả đời sống kinh tế của người Việt, dù vậy tranh Thập vật vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Khoảng đầu thế kỷ XXI, một số người làm công tác văn hóa, nhất là các họa sĩ và các nhà nghiên cứu mỹ thuật dần dà nhận ra vẻ đẹp nghệ thuật và tình cảm tâm linh của tranh Thập vật nhưng tiếng tăm của loại tranh này vẫn chưa được biết đến nhiều, thường chỉ có trong các triển lãm tranh truyền thống dịp gần Tết.

Tranh thờ miền núi phía Bắc

Tranh thờ của các dân tộc thiểu số ở vùng miền núi phía Bắc hầu hết là tranh tôn giáo, gắn với tín ngưỡng đạo Phật hay đạo Lão. Tranh thờ mang rõ dấu ấn nghệ thuật của mỗi dân tộc, hình thành từ cội nguồn văn hóa và phong tục tập quán riêng. Mỗi dân tộc lại có một dòng tranh thờ mang đặc thù khác nhau từ nét vẽ, màu sắc cho đến số lượng tranh trong mỗi bộ.

Ở khu vực miền núi phía Bắc, các dân tộc Tày, Nùng, Dao, Cao Lan, Sán Dìu… đều có tập tục sử dụng tranh thờ trong các việc cúng lễ, ma chay. Đặc biệt, Tày và Dao là hai dân tộc đang sở hữu một số lượng lớn các loại tranh thờ. Người dân tộc miền núi có tục lệ dùng tranh thờ như là cách để trông coi linh hồn người chết và khuyên giải con người nên sống như thế nào để khi chết sớm được siêu thoát. Tranh thờ miền núi có mặt trong các lễ tang, biểu thị ước nguyện dân gian của gia đình người chết cầu cho vong hồn thân nhân thoát cảnh địa ngục, vươn tới cõi Niết bàn hay cõi Bất tử.

Tranh thờ mang sắc thái và giá trị thẩm mỹ rất riêng. Về cơ bản loại tranh này vẽ bằng bột màu trên giấy và có lối bố cục lạ: hẹp, dài và dày đặc các nhân vật thần linh. Tùy nơi xuất xứ, cùng một đề tài có thể có các bố cục khác nhau, tạo ra nhiều dị bản. Màu sắc tranh thờ thường là màu bột và một số màu lấy từ tự nhiên (đá sỏi son, lá chàm, hoa hòe, than lá tre, bột vỏ sò vỏ điệp…), có nơi còn dùng cả vàng lá, bạc lá thếp thêm vào tranh tạo nên sự tươi tắn, linh thiêng. Những màu ấy trong tranh mang tính ước lệ, biểu trưng nhiều hơn là tả thực.

Phong cách nghệ thuật đồng hiện và liên hoàn là điều đáng chú ý nhất trong tranh thờ. Nghĩa là trong cùng một khuôn tranh, người ta bắt gặp đủ các lớp không gian, thời gian, thực và ảo khác nhau. Điều đó tạo ra không gian trong tranh mênh mang, thời gian trong tranh vô tận chứ không ghim chặt vào một khoảnh khắc điển hình. Xét về mặt nào đó, đây là một sự giải phóng về mặt tư tưởng, là một thành công trong tư duy sáng tác nghệ thuật của các nghệ nhân vẽ tranh thờ.

KIM NHÃ tổng hợp

;
.
.
.
.