Không nên hoảng hốt trước các thách thức của ĐBSCL - Nông Thôn Việt

Không nên hoảng hốt trước các thách thức của ĐBSCL

Thứ Ba, 03/10/2017, 14:41 [GMT+7]

Trong hai ngày 26 và 27.09.2017 vừa qua, tại Cần Thơ, Hội nghị về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) lần đầu tiên đã được Chính phủ tổ chức với quy mô mang tầm quốc tế với sự tham gia của 1.000 đại biểu, trong đó có hàng trăm nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành trên các lĩnh vực; lãnh đạo các bộ, ngành, địa phương; đại diện các cơ quan ngoại giao và nhiều định chế tài chính lớn….

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo hội nghị.
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu chỉ đạo hội nghị.

Đây được nhận định là một “hội nghị Diên Hồng”, mang ý nghĩa vô cùng to lớn để giải quyết những vấn đề cấp bách nhằm chuyển hóa những thách thức của ĐBSCL thành cơ hội để phát triển bền vững. Hội nghị do chính Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc chủ trì.

Ngoài hai phiên toàn thể, hội nghị còn có 3 buổi hội nghị chuyên đề song song do ba Bộ trưởng các Bộ: Kế hoạch - Đầu tư, Tài nguyên - Môi trường, Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, dưới sự tham gia chỉ đạo của hai Phó Thủ tướng Vương Đình Huệ và Trịnh Đình Dũng.

Kết thúc hội nghị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có bài phát biểu kết luận hết sức quan trọng, trong đó nêu những quan điểm chung về chiến lược phát triển vùng ĐBSCL và cả những giải pháp hết sức cấp bách, trước mắt.

NTV xin trích đăng lại một số nội dung quan trọng trong bài phát biểu này.

Định hướng và quan điểm phát triển

Định hướng của Chính phủ về xây dựng ĐBSCL không chỉ là vựa lúa lớn nhất cả nước mà phải là nền kinh tế nông nghiệp thông minh bền vững có giá trị cao trong khu vực và thế giới. Đó là nơi ứng dụng mạnh mẽ công nghệ cao vào nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây trồng để tăng hiệu quả sản xuất.

Các đại biểu quốc tế trao đổi tại hội nghị. Ảnh: NTV
Các đại biểu quốc tế trao đổi tại hội nghị. Ảnh: NTV

Muốn vậy, phải xây dựng ĐBSCL từ vùng trũng của giáo dục trở thành thung lũng của sự đổi mới sáng tạo, lấy phát triển bền vững và hiệu quả là sản xuất là 2 tiêu chí quan trọng nhất.

Về các quan điểm, ông yêu cầu: Kiến tạo, phát triển bền vững trên cơ sở chủ động thích ứng, chuyển hóa được những thách thức, biến thách thức thành cơ hội, bảo đảm cuộc sống ổn định và khá giả cho người dân cũng như bảo tồn được những giá trị truyền thống văn hóa của vùng. Thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa, sang tư duy kinh tế nông nghiệp từ số lượng sang chất lượng, gắn với chuỗi giá trị từ sản xuất nông nghiệp hóa học sang nông nghiệp hữu cơ và công nghệ cao; chú trọng công nghiệp chế biến và công nghiệp hỗ trợ gắn với phát triển kinh tế nông nghiệp.

“Quan điểm của Chính phủ, của Đảng Cộng sản Việt Nam là phát triển để phục vụ người dân là quan trọng nhất. Và với một tinh thần giảm khoảng cách giàu nghèo, không để ai bị bỏ lại phía sau”, Thủ tướng nêu rõ.

 

Không thay đổi quy luật tự nhiên, chọn mô hình thích ứng theo tự nhiên, phát triển phương thức sống chung với lũ, với khô hạn, với mặn trong đời sống. Lấy con người làm trọng tâm phát triển. Xác định BĐKH là xu hướng tất yếu, coi nước lợ nước mặn, nước biển dâng là nguồn lực tài nguyên. Sử dụng hiệu quả, tiết kiệm nước, đất đai, đặc biệt chú trọng vùng duyên hải ven biển, vùng kinh tế. Đảm bảo hài hòa với thiên nhiên, văn hóa con người, đồng thời kế thừa thành tựu, giá trị nhân văn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: NTV
Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc và các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: NTV

Mọi hoạt động đầu tư phải được điều phối thống nhất, bảo đảm tính chất liên vùng, liên ngành, có trọng tâm, trọng điểm, có lộ trình hợp lý, trong đó trước mắt tập trung ưu tiên các công trình có tính chất không hối tiếc, các công trình có tính chất động lực, thúc đẩy phát triển kinh tế toàn vùng, các công trình thiết yếu phục vụ đời sông nhân dân. Phải chú trọng và chủ yếu là giải pháp phi công trình, còn tất nhiên phải làm một số công trình. Hà Lan và nhiều nước khác đều đi theo hướng đó. Đẩy mạnh liên kết giữa ĐBSCL với TPHCM, liên kết với toàn miền Nam và liên kết với các tổ chức quốc tế.

Chủ động hợp tác với các nước thuộc tiểu vùng sông Mê Công trên cơ sở cùng có lợi, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên nước và các tài nguyên khác có liên quan.

Những giải pháp cụ thể:

Về quy hoạch: Xây dựng quy hoạch tích hợp, tổng thể, bền vững đặt trong bối cảnh có nhiều biến động dưới tác động của BĐKH.

dc
Các đại biểu tham dự hội nghị. Ảnh; NTV

Rà soát quy hoạch của các địa phương. Quy hoạch mới phải chuyển từ sống chung với lũ sang chủ động sống chung với lũ, sống chung với nước mặn và ngập. Không chỉ quan tâm đến vùng nước trong bờ mà còn phải quan tâm đến cả vùng nước ven bờ.

Các quy hoạch phải mang tính khách quan, khoa học. Đảm bảo đến năm 2050, ĐBSCL có trình độ phát triển khá và trình độ tổ chức xã hội tiên tiến, phấn đấu GDP đầu người đạt 10.000 USD, tỉ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm 80%, độ che phủ rừng đạt trên 5%. Đồng thời những tài nguyên, hệ sinh thái quan trọng phải được bảo tồn.

 

“Những quyết sách, kết luận từ Hội nghị này, kể cả quy hoạch ĐBSCL như thế nào tới đây cũng công bố để người dân biết, góp ý và phản biện và chú ý lắng nghe mọi nơi mọi lúc, thông qua nhiều hình thức. Người dân có quyền giám sát đánh giá lại doanh nghiệp và cơ quan quản lý, nhất là những định hướng phát triển phù hợp”, Thủ tướng nêu rõ.

 

Tổ chức không gian tổng thể theo hướng khai thác hiệu quả đất, nước gắn liền với con người. Tạo không gian trữ nước, sống chung với mặn, lợ vùng ven biển, bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên. Phát triển công nghiệp xanh, ít rác thải. Tập trung phát triển công nghiệp chế biến, phát triển du lịch dựa trên sinh thái như du lịch miệt vườn, du lịch sông nước, du lịch sinh thái…

Khắc phục nhanh những quy hoạch chồng chéo, tình trạng thiếu phối hợp, cần tạo nên sức mạnh mang tính tổng hợp. Liên kết chuỗi để nâng cao sức cạnh tranh. Cơ chế điều phối vùng phải được nhanh chóng thành lập ngay sau hội nghị.

“Chúng ta thiếu chính sách tạo nên sự liên kết chuỗi nhằm nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của các mặt hàng nông sản vùng đồng bằng. Vấn đề này, tôi giao cho Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì khẩn trương báo cáo Thủ tướng Chính phủ, nhất là cơ chế điều phối vùng sẽ được thành lập ngay sau hội nghị này”, Thủ tướng nhấn mạnh.

Trên lĩnh vực nông nghiệp: Với điều kiện nguồn nước khan hiếm, cho nên chiến lược đầu tiên là trồng cây trồng ít sử dụng nước và không gia tăng, giữ diện tích trồng lúa như hiện nay. Rất cần thiết chuyển sang mô hình canh tác lúa-cá, lúa-tôm để giảm bớt sử dụng nước trong sản xuất nông nghiệp.

Cơ cấu lại phát triển bền vững cơ cấu nông nghiệp vùng ĐBSCL theo hướng liên kết vùng, hướng tới một nền NN sản xuất hàng hóa lớn, có hiệu quả bền vững, có năng suất chất lượng và sức cạnh tranh cao đáp ứng nhu cầu thị trường trong và ngoài nước.

Bí thư Thành uỷ TPHCM Nguyễn Thiện Nhân trao đổi với đại biểu nước ngoài dự hội nghị. Ảnh: NTV
Bí thư Thành uỷ TPHCM Nguyễn Thiện Nhân trao đổi với đại biểu nước ngoài dự hội nghị. Ảnh: NTV

Giảm trồng những loại cây dùng nhiều nước mà giá trị thương mại thấp. Trong quá trình lựa chọn cây con cần thiết phải có doanh nghiệp tham gia từ đầu. Vì họ là người sau cùng đầu tư sản xuất nguyên liệu và chế biến thành các mặt hàng cung cấp ra thị trường.

Về thủy lợi, rà soát lại quy hoạch thủy lợi đến 2020, tầm nhìn 2050 đã được phê duyệt theo QĐ số 1397 của Thủ tướng Chính phủ để phù hợp với bối cảnh mới mà vùng ĐBSCL phải đối diện. Quy hoạch thủy lợi là cái gốc để phát triển phục vụ NN công nghệ cao, trong đó đặc biệt quan tâm đến mục đích của thủy lợi là cải cách hệ thống đê bao bờ bao tại vùng ĐBSCL.

Thủ tướng cho rằng, theo cách tiếp cận hiện nay thì chiều dài đê bao ĐBSCL sẽ lên trên 57.000 km. Thời gian tới, mực nước nội đồng sẽ tiếp tục gia tăng. Đất đồng bằng tiếp tục lún sụt, lũ tiếp tục tăng thêm. Mực nước biển tiếp tục dâng thêm. Vấn đề domino về đê bao tất yếu sẽ xảy ra và sẽ tiếp tục theo chiều hướng bất lợi và trong vòng luẩn quẩn không ngừng. Cần giải quyết vấn đề “vạn lý đường đê” một cách biện chứng khoa học và khôn ngoan nhất.

 

“Như vùng bán đảo Cà Mau có trên 10.000 giếng khoan nước ngầm phục vụ nuôi trồng thủy sản thì làm sao không gây sụt lún được?”. Từ năm 2010 đến nay, diễn biến sạt lở diễn ra rất nhanh, hiện có 562 điểm sạt lở sông, biển trên chiều dài gần 800 km; trong đó sạt lở đặc biệt nguy hiểm tại 40 điểm trên chiều dài 130 km. Mỗi năm, chúng ta đang mất khoảng 300 ha đất, lãnh thổ với xu hướng ngày càng nghiêm trọng hơn”, Thủ tướng lo lắng.

Đối với lĩnh vực công thương, hạn chế tối đa làm nhiệt điện than và nếu làm, không được ảnh hưởng đến môi trường.

Về lĩnh vực xây dựng, có 3 việc lớn. Một là, chương trình phát triển đô thị vùng ĐBSCL thông minh. Thứ hai là chương trình nước sạch liên vùng an toàn cho người dân. Thứ ba, xây dựng nhà ở an toàn, vệ sinh cho người dân miền Tây.

Về lĩnh vực Giao thông vận tải, phải tận dụng lợi thế sông nước để phát triển các tuyến giao thông thủy thay vì đầu tư quá nhiều các dự án cao tốc đường bộ lớn mặc dù hệ thống giao thông cao tốc đường bộ quốc lộ ở ĐBSCL là cần thiết.

Về lĩnh vực giáo dục đào tạo và dạy nghề, cần phải đầu tư phát triển nguồn nhân lực để biến ĐBSCL thành thung lũng của sự sáng tạo cho một nền nông nghiệp đa chức năng.

Về tài chính, nghiên cứu thành lập Quỹ phát triển ĐBSCL với nhiều nguồn lực khác nhau. Từ nay đến năm 2020, giải ngân có hiệu quả ít nhất là 1 tỷ USD để làm mấy việc: Làm hệ thống cống điều tiết, cống sông Cái Lớn, sông Cái Bé của tỉnh Kiên Giang để ngăn mặn, cống Trà Sư, Tha La của tỉnh An Giang để điều tiết lũ, rồi một số đoạn sạt lở nghiêm trọng, trực tiếp gây ảnh hưởng đến nhà cửa của nhân dân.

lu
ĐBSCL trong mùa lũ.

Thủ tướng nhấn mạnh tinh thần, cái gì tư nhân có thể làm được thì chúng ta tạo điều kiện cơ chế cho tư nhân làm. Phát huy vai trò của thành phần tư nhân trong phát triển ĐBSCL. Tạo điều kiện thuận lợi cho tư nhân. Trong hợp tác quốc tế: Phải chủ động hợp tác với các nước trên cơ sở hợp tác cùng có lợi, mở rộng thị trường. Tranh thủ sự hỗ trợ về vốn, kinh nghiệm, công nghệ từ các nước như Hà lan, Úc, Israel…

Một số giải pháp chung

Xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐBSCL phục vụ thích ứng BĐKH và sinh kế bền vững. Nghiên cứu xây dựng Chương trình đồng bằng thích ứng dưới dạng một dự án tổng thể có mục tiêu dài hạn là giữ cho ĐBSCL an toàn về lâu dài và là một nơi hấp dẫn để sinh sống và làm việc, kể cả chính sách hạn điền ở khu vực này.

Xây dựng chương trình thích ứng với BĐKH có mục tiêu dài hạn trong đó coi trọng vai trò của doanh nghiệp, thành phần tư nhân. Trong công tác truyền thông, phải làm thế nào để chính quyền, người dân nhận thức và hiểu biết đầy đủ thì mới có thể tìm ra lối đi phù hợp. Phải vận động nhân dân tham gia, đóng góp ý kiến. Người dân có quyền đánh giá, giám sát doanh nghiệp, nhà nước.

Cuối cùng, ông khẳng định: Việt Nam đã hoàn thành sớm và tốt các mục tiêu Thiên niên kỷ và được quốc tế đánh giá cao. Việt Nam tiếp tục quyết tâm hoàn thành sớm các mục tiêu phát triển bền vững trước năm 2030. Trong đó ĐBSCL cũng sẽ hoàn thành các mục tiêu. Chúng ta sẽ không để người dân đồng bằng nào rớt lại phía sau! 

BỐN THÁCH THỨC

Thủ tướng khẳng định: Đây không phải dự báo mà đã là hiện hữu, phải nhận thức xử lý một cách biện chứng, không tách rời. Phải giữ được đất, được nước và đặc biệt là được người thì mới đảm bảo sự thành công đối với công cuộc thích ứng BĐKH của vùng.

-Việc nước biển dâng xâm nhập là ảnh hưởng nặng nề nhất đến việc canh tác và chất lượng của những vùng trồng lúa.

-Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ sông Mê Công đã làm giảm lượng nước, gây hạn hán trên diện rộng trong thời gian qua, gây nguy cơ đến hoạt động thủy lợi.

-Các hoạt động kinh tế cường độ cao gây nhiều tổn thương và hệ lụy cho ĐBSCL, gây ra sụt lún lớn và nghiêm trọng, môi trường ngày càng suy thoái; mức độ ngày càng nghiêm trọng cho môi trường nước, đất và người dân.

-ĐBSCL hiện là vùng trũng về giáo dục đào tạo, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới hóa và hạ tầng cơ sở chưa tương xứng với tiềm năng. Trong khi nhân lực chất lượng cao có xu hướng dịch chuyển khỏi vùng, nhất là trong bối cảnh vùng đang chịu tác động mạnh của biến đổi khí hậu và khoảng cách phát triển ngày càng xa với thế giới trong làn sóng cách mạng công nghiệp 4.0.

 

Trần Toàn-Minh Quang-Thùy Dung

;
.
.
.
.