Trò chuyện với người chẩn 'bệnh của giời' - Nông Thôn Việt

Trò chuyện với người chẩn 'bệnh của giời'

Thứ Năm, 13/02/2020, 09:41 [GMT+7]

Đầu năm mới 2020, Nguyên Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng thủy văn (KTTV) Lê Thanh Hải, người thường xuyên xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng mỗi khi xảy ra các hiện tượng thời tiết cực đoan, đã dành cho NTV cuộc trò chuyện thân tình về biến đổi khí hậu, về những trăn trở của công việc “chẩn bệnh của Giời” mà ông đã dành trọn tâm huyết trong suốt 40 năm qua.

PV: Năm 2019 vừa khép lại sau lưng, có thể được coi là một năm mưa thuận gió hòa không, thưa ông?

ÔNG LÊ THANH HẢI: Với biến đổi khí hậu, tôi cho rằng khái niệm “mưa thuận gió hòa” đã “xưa rồi Diễm”. Nhìn chung xu thế biến đổi khí hậu sẽ dẫn đến ấm/nóng lên và giảm mưa trên bình diện trung bình. Ở các tỉnh phía Bắc, lượng mưa trung bình giảm đến 50 - 60%; nhiều hồ thủy điện, thủy lợi ở Bắc bộ đều thiếu nước trầm trọng. Miền Trung thì nóng kỷ lục, ngay từ tháng 4 đã ghi nhận nhiệt độ chưa từng thấy. Bão ít nhưng số cơn bão mạnh và siêu bão có dấu hiệu tăng lên đáng kể. Nếu như trước đây các bản tin dự báo thường chỉ nói đến sức gió “rất mạnh” hoặc “trên cấp 12” thôi, thì bây giờ bạn còn nghe thấy “siêu bão” nữa. Đó không phải là một từ dùng tùy tiện mà đã được quy định trong Luật Phòng, chống thiên tai, theo đó bão cấp 16 trở lên gọi là siêu bão khi mà vận tốc gió ở độ cao 10m trên mực nước biển đạt từ 184km/h trở lên.

Mọi dự báo dài hạn đều khó khăn, giống như bắn súng càng xa càng khó trúng, thường chỉ dùng để tham khảo, lập kế hoạch hạn vừa và phải cập nhật thường xuyên. Nhưng có thể khái quát là chưa thấy có gì đột biến một cách khủng khiếp hay không thể chịu đựng được. Không phải là năm El Nino hay La Nina kỷ lục, vẫn ở mức trung tính ở giữa, tức chưa có dấu hiệu gì là El Nino hay La Nina mạnh cả. Chúng ta vẫn sẽ có một mùa đông ấm, rét đậm, rét hại cũng có nhưng mà ít, thoảng qua dăm bảy ngày rồi hết; mùa xuân đến và qua đi khá nhanh. Mùa hè nóng nực đến sớm kèm theo hết kỷ lục nóng này đến kỷ lục nóng khác ở bất cứ khu vực nào. Giông lốc sét sẽ nhiều và nguy hiểm hơn; mùa mưa bão đến muộn và cũng có thể sẽ không nhiều, không đều và lại dồn dập vào một thời gian ngắn; xâm nhập mặn ở miền Tây Nam bộ sẽ đến rất sớm và lan sâu hơn vào nội đồng. Hạn hán, thiếu nước cũng sẽ được nhắc đến nhiều hơn ở Tây nguyên, Bắc và Nam Trung bộ, thậm chí ở vùng núi Bắc bộ năm tới xuất hiện hạn hán hơn cả mức cục bộ năm ngoái. Tóm lại, năm 2020 chúng ta sẽ phải nhắc nhiều đến biến đổi khí hậu hay còn gọi là khủng hoảng khí hậu với các hiện tượng khí tượng, thủy văn, khí hậu cực đoan, ít gặp hơn và khó lường hơn.

Như ông vừa nói, tự nhiên đang biến đổi. Vậy công tác dự báo KTTV đã thích ứng như thế nào?

Đóng góp của KTTV trong nền kinh tế, theo những nghiên cứu nước ngoài, đã được định lượng khoảng 1 - 20 hay 1 - 28, tùy quốc gia, nghĩa là đầu tư cho KTTV 1 đồng thì đem lại 28 đồng. Nhưng điều này cũng là so sánh tương đối thôi. Chẳng hạn khi bạn nói đúng được một trận hạn hán khủng khiếp sẽ tới trong 3 hay 6 tháng nữa, thời gian đủ để chuyển đổi cơ cấu vật nuôi cây trồng và tránh được thiệt hại, thì lợi ích mang lại là rất lớn, khó có thể đong đếm hết được.

Khí hậu chính là một loại tài nguyên, hiểu theo nghĩa rộng. Ở một vùng đất khô nóng như Ninh Thuận, nếu biết uyển chuyển thích nghi, thì đấy lại là một lợi thế đem lại những mùa hoa quả ngọt hơn những nơi khác, những cánh đồng muối với chất lượng cao, chi phí thấp… Với Việt Nam, “tài nguyên” này rất đáng giá. Tôi còn nhớ thời Việt Nam còn khó khăn trong sản xuất lương thực, có một Viện sĩ hàn lâm Liên Xô từng hỏi nhiệt độ trung bình năm của Việt Nam là bao nhiêu. Khi nhận được câu trả lời là khoảng 18 - 20oC, ông ấy cười bảo, nhiệt độ trung bình như thế mà đói thì là tại chưa biết tận dụng tài nguyên khí hậu để tạo ra lợi thế nông nghiệp. Và với nông nghiệp hiện nay, chúng ta đã qua giai đoạn đói lâu rồi, thậm chí bắt đầu thừa, nhưng đến giai đoạn giàu thì quả là vẫn còn phải phấn đấu dài dài.

Không nói thì ai cũng biết, để tận dụng được “tài nguyên” khí hậu và hạn chế những tiêu cực của nó trong giai đoạn “khủng hoảng khí hậu”, vai trò của ngành KTTV là rất quan trọng. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, dĩ nhiên ngành KTTV cũng phải thích ứng, không phải chỉ với bây giờ, cho hôm nay, mà phải có tầm nhìn ít nhất hàng chục năm sau nữa. Mới đây, năm 2017, đúng 20 năm sau cơn bão Linda, anh em chúng tôi nhìn lại, có nói với nhau là không thể để xảy ra những hậu quả khủng khiếp thế nữa. Năng lực phát hiện, dự báo đã tốt hơn và nhận thức của người dân - đối tượng chịu tác động cũng tốt hơn. Phương pháp dự báo hiện nay dựa trên kết quả đánh giá tác động, có ý nghĩa cảnh báo sâu sắc hơn, “đánh động” vào cộng đồng và người dân tốt hơn. Chúng tôi vẫn nói vui là khi dự báo bão, gió cấp mấy không quan trọng, gió thổi bay cái gì và người chịu tác động cần phản ứng ra sao mới quan trọng. Các phương tiện nghe nhìn, báo mạng, mạng xã hội phát triển góp phần làm cho người chịu tác động của các hình thái thời tiết thủy văn, nguy hiểm, cực đoan hình dung được rõ hơn, chi tiết hơn những gì sắp xảy đến để chủ động ứng phó... Nhưng tất nhiên là vẫn còn đó những khó khăn rất lớn.

Ông có thể nói cụ thể hơn về những khó khăn đó?

Bất cứ hiện tượng gì xảy ra trong khí quyển, thủy quyển, băng quyển, sinh quyển… cũng phải quan trắc được thì mới đưa ra các cảnh báo, dự báo đủ độ tin cậy, đủ để sử dụng được. Các thiết bị quan trắc KTTV rất đắt, lại phải duy tu bảo dưỡng thường xuyên. Chẳng hạn, một cái radar dự báo thời tiết giá 1 triệu USD, nhưng hàng năm vẫn có thể phải bỏ ra 100.000USD để kiểm định, cân chỉnh, bảo dưỡng, duy tu, sửa chữa, thay thế… Tuổi của thiết bị càng nhiều thì chi phí này càng lớn. Nếu không may bị sét đánh hỏng - rất khách quan, rất ít khi gặp - nhưng cũng tốn kém hàng tỷ đồng để sửa chữa. Năm 2019, chúng tôi có một thiết bị bị sét làm hỏng chỉ 2 ngày trước khi hết hạn bảo hành và chi phí sửa chữa lên tới 3 tỷ đồng... Chi phí này không thể tiếc được, ngay cả khi chúng ta đang ở vào “điểm rơi” của chi tiêu công.

Ông đánh giá thế nào về tác động của biến đổi khí hậu đến các vùng nông thôn Việt Nam?

Tôi không phải là một chuyên gia về nông nghiệp, nông thôn. Nhưng tôi có cảm giác là nông thôn Việt Nam đang vắng vẻ hơn, buồn hơn trước, vì nhiều người trẻ tuổi và trung niên đổ dồn đến các đô thị làm việc; đa phần những người ở lại nông thôn là người già và trẻ em. Và có lẽ trong bối cảnh biến đổi khí hậu, khi nước ngày càng khan hiếm, việc canh tác quá nhiều lúa nước cần phải xem xét lại. Nhiều vùng nông thôn đã cho thuê đất, dồn điền đổi thửa làm trang trại, trồng cây ăn quả, làm nông nghiệp hữu cơ, đặc sản nông nghiệp có tính địa phương… tôi cho thế là xu hướng đúng.

Có dịp đi công tác nhiều nơi, tôi nhận thấy chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) rất hay, có thể nhân rộng, nhưng muốn vậy thì vai trò của các hiệp hội nghề nông thôn cần được tăng cường, khuyến khích và đề cao hơn nữa. Xã hội cũng cần thay đổi cái nhìn, cụ thể là cần có sự tôn vinh xứng đáng, trân trọng và biết ơn người nông dân, người trồng vườn đã tạo ra các sản phẩm nông nghiệp chất lượng cao. Nhiều hiệp hội rau quả ở Nhật Bản thường tổ chức đấu giá các sản phẩm nông nghiệp độc đáo như dưa hấu đen, nho giòn, hồng ngọt, xoài mặt trời… với giá cực kỳ cao như quả dưa hấu, chùm nho triệu yên, cặp hồng có khi bằng tới cả năm lương của một nhân viên bậc trung. Ngoài sự tặng thưởng với lòng biết ơn cho cá nhân, phần lớn số tiền thưởng sau đó được sử dụng trở lại cho công tác khuyến nông, cho nghiên cứu. Tôi mong muốn các sản phẩm của người nông dân Việt Nam cũng được như thế.

Xin cảm ơn ông

CẨM HÀ thực hiện

;
.
.
.
.