Quản lý tài nguyên nước tầm nhìn và giải pháp - Nông Thôn Việt

Quản lý tài nguyên nước tầm nhìn và giải pháp

Thứ Ba, 19/01/2021, 11:49 [GMT+7]

Bước vào thiên niên kỷ mới, quan điểm quản lý tổng hợp tài nguyên nước (Integrated Water Resources Management) của quốc tế đã được chuyển giao và bắt đầu vận dụng tại Việt Nam.

 

Cùng với các quốc gia Đông Nam Á, Việt Nam đang hưởng ứng chương trình quốc tế về cải cách thể chế ngành nước. Xu hướng chung là chuyển từ kỹ thuật khai thác công trình thủy lực trên dòng sông, sang quản lý phát triển tài nguyên nước trên lưu vực sông. Khái niệm nghề nghiệp ngành nước cũng bao hàm nội dung rộng hơn trước, gồm: quản lý và bảo vệ tài nguyên nước lưu vực sông và vùng ven biển, hệ sinh thái nước, chất lượng nước, phát triển và xây dựng công trình thủy lực, khai thác nước đa mục tiêu, sử dụng nước hợp lý tiết kiệm, hiệu quả đầu tư công trình nước, giá nước và tài chính nước... Trong bối cảnh đó, việc cần thiết là đánh giá lại tiềm năng, từ đó hoạch định tầm nhìn dài hạn trong quản lý tài nguyên nước.

Tầm nhìn mới

Tài nguyên nước khác với các tài nguyên khác, là tài nguyên động, biến động tức thời, việc khai thác sử dụng và ô nhiễm đều gây tác động tức thời lên cuộc sống con người và môi trường lưu vực. Vấn đề đặt ra là với công nghệ và thông tin hiện đại, cấp trung ương nên tiếp tục quản lý từ xa như vẫn làm, hay là giám sát tận nơi và xử lý tại địa bàn cho kịp thời và hiệu quả?

Tài nguyên nước vận động trong phạm vi lưu vực, không kể đến ranh giới hành chính, vậy đối với những bất đồng và tranh chấp liên tỉnh và liên ngành cần có căn cứ kỹ thuật để phân xử thì tổ chức lưu vực sông có đủ năng lực kỹ thuật không? Nên trang bị kỹ thuật đến mức độ nào và quyền lực hành chính kỹ thuật đến đâu để thực thi trách nhiệm?

Nước là một yếu tố sống còn đối với con người, kinh tế và môi trường, nghĩa là cần được bảo vệ kịp thời và sử dụng hiệu quả, vậy cần thiết lập cơ chế nào để các tổ chức kinh tế và con người sinh sống và làm việc trên lưu vực sông có được tiếng nói thực chất, tránh kiểu tham gia hình thức suông như vẫn thấy?

Một số chuyên gia ngành nước cho rằng tổ chức lưu vực sông liên tỉnh là một tổ chức chưa từng có, không phải cấp trung ương cũng chẳng phải cấp tỉnh, và có vẻ như đứng ngoài hệ thống “lãnh đạo toàn diện của đảng bộ cấp tỉnh liên quan”. Và việc vận dụng QĐ-TTg 34/2007 về “Tổ chức phối hợp liên ngành” (qui định áp dụng cho tư vấn cấp trung ương) cũng không phù hợp. Cần tham khảo kinh nghiệm phổ biến của thế giới để có một dạng qui phạm pháp luật đặc thù.

Trong QLTH-TNN có một từ then chốt là từ “tổng hợp” nghĩa là nói đến phối hợp liên ngành. Khi tiến hành quy hoạch và quản lý tài nguyên nước phải cân nhắc đến sự cạnh tranh và xung đột về nước cho nông nghiệp tưới, thuỷ điện, cấp nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường, công nghiệp...

Giải pháp tối ưu

Nước có thể nhận thấy và khai thác được chỉ ở thể lỏng và thể rắn (băng tuyết). Việt Nam không có băng tuyết (đúng hơn là ít khi nhìn thấy) nên chỉ còn dạng lỏng. Như vậy “tài nguyên nước” của Việt Nam được phân thành tài nguyên nước mặt và tài nguyên nước ngầm.

Nếu so với mức 1.000m3/năm (tiêu chuẩn thiếu nước - water scarcity) cho mỗi người thì Việt Nam là quốc gia có tài nguyên nước rất phong phú, với 9.000m3/người/năm.Tuy vậy việc sử dụng nguồn tài nguyên này vẫn không kém căng thẳng do khác biệt giữa cung và cầu ở một số địa điểm và thời điểm. Trên thực tế, các lưu vực sông tạo ra 80% GDP của Việt Nam đều được dự báo sẽ phải đối mặt với tình trạng căng thẳng về nước vào mùa khô vào năm 2030.

Nguồn nước mặt chủ yếu phụ thuộc vào mạng lưới sông ngòi và các hồ đập (cả thủy điện và thủy lợi). Nếu xét trên toàn quốc thì chưa thấy con số thống kê nào về tổng lượng. Nhưng giả thiết rằng lượng nước đó tỷ lệ với lượng mưa thì về cơ bản tổng lượng nước mặt biến đổi không đáng kể nhưng có sự biến động giữa các mùa trong năm. Ở Việt Nam, mạng lưới sông ngòi chằng chịt là lợi thế về tài nguyên nước mặt.

Ngành nông nghiệp sử dụng 82% lượng nước của Việt Nam nhưng đóng góp chỉ chiếm 22% GDP quốc gia với hiệu suất tưới chỉ đạt 68%. Ngành công nghiệp sử dụng 5% tài nguyên nước của Việt Nam và đóng góp 39% GDP và đang phát triển nhanh, tuy nhiên ngành này đang góp phần vào mức độ ô nhiễm cao vì chỉ có 71% nước thải công nghiệp và 12,5% nước thải đô thị được xử lý trước khi xả vào môi trường sông rạch. Các tác động liên quan đến ô nhiễm có thể dẫn đến giảm 3,5% GDP quốc gia vào năm 2035 theo một kịch bản phát triển thông thường. Biến đổi khí hậu sẽ làm trầm trọng thêm tình hình, gây ra sự thay đổi về nguồn nước giữa các vùng và các mùa. Ngoài ra, Việt Nam là quốc gia dễ bị ảnh hưởng bởi thiên tai với chi phí thiên tai liên quan đến nước cao, lên tới 1 đến 1,5% GDP trong hai thập kỷ qua.

Liên ngành quản lý tài nguyên nước.
Liên ngành quản lý tài nguyên nước.

Tuy nhiên chất lượng nước đang ngày càng xấu đi do ô nhiễm mà nguyên nhân chủ yếu là sự xả thải bừa bãi, thiếu kiểm soát, giám sát. Nếu vài chục năm trước đây người ta có thể uống nước ở bất cứ con sông nào thì bây giờ điều đó là không thể. Ngay cả hệ thống nước sạch cung cấp cho Hà Nội từ sông Đà cũng không ai dám đảm bảo 100% là “sạch” theo đúng nghĩa. Ngoài ra, sự hoạt động của các đập thuỷ điện có thể góp phần “cắt lũ” phòng tránh thiên tai nhưng lại gây trở ngại cho việc cung cấp nước vào mùa kiệt ở hạ nguồn. Việc mất lớp phủ rừng tự nhiên đầu nguồn cũng có thể là nguyên nhân làm giảm lượng nước các con sông do một số suối nhỏ bị “chết” hẳn hoặc “nửa chết nửa sống”. Tất cả những điều đó muốn nói lên rằng tài nguyên nước mặt ở VN đang đứng trước những thách thức không nhỏ theo nghĩa “có thể khai thác như là một nguồn tài nguyên”.

Đối với tài nguyên nước ngầm, ở các vùng nông thôn do thiếu nước mặt “sạch” nên việc khai thác nước ngầm cũng đang dần phổ biến. Ô nhiễm nước ngầm do sử dụng hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật cũng đang là vấn đề lớn. Đặc biệt lượng nước ngầm trên các đảo nhỏ, như đảo Lý Sơn chẳng hạn, rất có thể chóng cạn kiệt do tốc độ khai thác của dân phục vụ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất. Mất rừng đầu nguồn cũng là nguyên nhân làm suy giảm lượng nước bổ cập. Đối với các vùng ven biển, sự xâm nhập mặn cộng với mực nước ngầm hạ vào mùa khô có thể sẽ gây ra nhiễm mặn nguồn nước ngầm. Đồng bằng sông Cửu Long là một ví dụ điển hình.

Tóm lại, có 3 vấn đề lớn về tài nguyên nước cần phải được cứu xét để tìm giải pháp tốt nhất:

- Về số lượng (quantity): Vì số lượng nước có giới hạn nên hiệu năng của việc sử dụng rất quan trọng. Chú trọng đến những phương pháp tiết kiệm nước và sử dụng ít nước để sản xuất. Ngoài ra, cũng nên cứu xét để tạo thêm nguồn nước ngọt bằng phương pháp khử mặn ở các vùng ven biển bằng năng lượng mặt trời.

- Về phẩm chất (quality): Đây mới là thách thức lớn lao để làm cho số lượng nước có giới hạn đạt tiêu chuẩn để sử dụng. Thách thức lớn nhất sẽ là kiểm soát môi trường để bảo vệ phẩm chất của nước mặt, nước ngầm và nước biển.

- Cần thiết kế một tổ chức lưu vực sông khác với những cái lâu nay vẫn làm. Chừng nào vấn đề quản lý lưu vực sông chưa được giải quyết như cuộc sống đòi hỏi thì vấn đề quản lý tài nguyên nước vẫn còn nan giải.

Tài nguyên nước Việt Nam

Sông/suối có chiều dài trên 10 km: 3450
Tổng nguồn tài nguyên nước mặt hàng năm: 830 tỷ m3
Tổng nguồn nước ngầm hàng năm: 63 tỷ m3/năm
Tổng lượng nước trên mỗi người: 9000 m3/năm
Số lượng hồ chứa thủy điện và thủy lợi: 2900
Tổng dung tích hồ chứa: 28 tỷ m3
Số lượng hồ chứa quy hoạch: 510
Tổng dung tích các hồ dự kiến: 56 tỷ m3
Tổng lượng nước tiêu thụ quốc gia hàng năm (tất cả các mục đích sử dụng): 81 tỷ m3

Nguồn: Cục Quản lý Tài nguyên nước, Việt Nam. Số liệu năm 2015.

 

TÔ VĂN TRƯỜNG

;
.
.
.
.