Nước sạch cho nông thôn - Nỗi lo hiện hữu - Nông Thôn Việt

Nước sạch cho nông thôn - Nỗi lo hiện hữu

Thứ Năm, 18/03/2021, 10:23 [GMT+7]

Mặc dù đã được đầu tư nhiều nhưng tình trạng thiếu nước sạch sinh hoạt ở khu vực nông thôn những năm gần đây vẫn chưa được cải thiệu nhiều. Diễn biến bất thường của thời tiết với hạn hán, xâm nhập mặn xuất hiện ngày càng dày đặc và kéo dài càng làm cho tình hình thêm nghiêm trọng.

 

Người dân tìm hiểu túi trữ nước ngọt, phương tiện hữu ích trong mùa hạn mặn.
Người dân tìm hiểu túi trữ nước ngọt, phương tiện hữu ích trong mùa hạn mặn.

Mùa khô 2019 - 2020, Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có khoảng 96.000 hộ thiếu nước và 196 công trình bị ảnh hưởng, Tây Nguyên khoảng 9.000 hộ thiếu nước, miền Trung khoảng 42.000 hộ thiếu nước, các tỉnh thành thuộc lưu vực Đồng bằng sông Hồng (ĐBSH) cũng gặp tình trạng tương tự.

Nước sạch sinh hoạt: Hạn cũng thiếu mà lũ lớn cũng thiếu

Theo chương trình Hỗ trợ ngành nước của Ngân hàng Thế giới (WB), Việt Nam là một trong hai nước (cùng với Bangladesh) bị tác động tồi tệ nhất trên thế giới do nước biển dâng; trong đó, ĐBSCL được đánh giá là khu vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất thế giới. Hàng năm, một diện tích rộng hơn 2 triệu hecta ở phía bắc ĐBSCL bị ngập do lũ sông Mê Kông, gần 2 triệu hecta đất nông nghiệp ven biển bị xâm nhập mặn, 1,9 triệu hecta bị nhiễm phèn, nguồn nước mặt cũng có dấu hiệu bị ô nhiễm (trên 85% nước thải sinh hoạt nông thôn chưa được xử lý)… Theo PGS.TS Nguyễn Hồng Tiến - Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Cấp thoát nước Việt Nam - nguy cơ mất an toàn trong cấp nước ở Việt Nam là rất cao do nguồn nước của Việt Nam đang trong tình trạng quá ô nhiễm. Chưa kể hầu hết các con sông lớn của Việt Nam có nguồn gốc từ nước lân cận nên tài nguyên nước của nước ta dễ bị tổn thương do các hoạt động khai thác, sử dụng nước ở thượng nguồn.

Mặt khác, tổng dung tích các hồ chứa nước của Việt Nam hiện chỉ tích trữ được 8% lưu lượng nước trung bình hàng năm nên vào mùa mưa lũ không thể ngăn được nước và không tích trữ đủ nước cho mùa khô để giúp giảm nhẹ tác động của hạn hán. Trong 5 năm qua, có đến 30 đập chứa bị vỡ càng khiến cho tình hình thêm nghiêm trọng.

Tình trạng các con sông, kênh rạch vùng nông thôn bị ô nhiễm do rác thải nông nghiệp cũng góp phần làm giảm nguồn cung cấp nước an toàn.
Tình trạng các con sông, kênh rạch vùng nông thôn bị ô nhiễm do rác thải nông nghiệp cũng góp phần làm giảm nguồn cung cấp nước an toàn.

Năng lực cấp nước nông thôn còn nhiều hạn chế

Chính phủ đưa ra mục tiêu đến năm 2020 phải có 95% người dân nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh, trong đó 65% đạt quy chuẩn quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành. Trên thực tế, cả nước hiện có tổng cộng 16.573 công trình cấp nước tập trung nhưng trong đó chỉ có 33,12% công trình hoạt động bền vững, 35,28% hoạt động trung bình, 16,98% kém hiệu quả và 14,62% không hoạt động. Tổng số các công trình hoạt động kém hiệu quả, không hoạt động và thời gian hoạt động đã trên 10 năm chiếm tỷ lệ tới 41%. Bên cạnh đó, các đơn vị khai thác, vận hành cộng đồng như UBND xã, hợp tác xã (chiếm tỷ lệ cao trên 80%) lại tổ chức, quản lý kém khiến việc đảm bảo an ninh nguồn nước cho khu vực nông thôn càng đáng lo ngại.

Ngay tại các địa phương có thiết lập kế hoạch cấp nước an toàn (hiện cả nước có trên 300 trạm cấp nước lập và thực hiện kế hoạch này, bao gồm 8 tỉnh ĐBSH, các tỉnh Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Bình Thuận, Bà Rịa - Vũng Tàu và 6 tỉnh ĐBSCL gồm Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Sóc Trăng), nhiều trạm máy móc đã quá cũ nhưng chưa có kinh phí thay thế, chất lượng nước đầu vào không ổn định.

Ông Trương Công Nam, Chủ tịch Chi hội Cấp Thoát nước Miền Trung - Tây Nguyên cho biết: “Vùng nông thôn dân cư thưa thớt, địa bàn rộng, đường dẫn ống dài, điều kiện thi công khó khăn làm cho chi phí đầu tư rất cao. Vốn bỏ ra lớn, khả năng thu hồi chậm, lợi nhuận thấp, lại không có chính sách ưu đãi đi kèm khiến các doanh nghiệp ngành nước gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn vốn đầu tư cho các công trình cấp nước khu vực nông thôn”.

Không chỉ các vùng nông thôn xa xôi, ngay tại TP.HCM, theo thống kê của Công ty Cổ phần Hạ tầng nước Sài Gòn (Saigon Water), sau hơn 2 năm đầu tư các giải pháp cấp nước nông thôn, tổng số vốn Công ty đổ vào đã hơn 2.000 tỷ đồng nhưng hiệu quả rất thấp do người sử dụng nước còn hạn chế. Điều đáng nói là trong số hơn 70.000 đồng hồ nước lắp đặt đến tận nhà dân thì có đến 36.000 đồng hồ không sử dụng nước liên tục trong 6 tháng, chiếm tỷ lệ 51%. Đó là lý do mà các nhà đầu tư chọn đầu tư vào các địa điểm ít rủi ro hơn - như những điểm có đông dân cư, sức tiêu thụ nước lớn, khả năng chi trả cao… - dẫn đến sự mất cân đối trong cung cấp nước cho vùng đô thị và nông thôn.

 Bà Nguyễn Thị Năm, ấp 5, xã Tân Phước Tây, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bên những chiếc lu trữ nước mưa dùng cho sinh hoạt hàng ngày.
Bà Nguyễn Thị Năm, ấp 5, xã Tân Phước Tây, huyện Tân Trụ, tỉnh Long An bên những chiếc lu trữ nước mưa dùng cho sinh hoạt hàng ngày.

Để khắc phục tình trạng thiếu nước sạch ở khu vực nông thôn, theo Tổng cục Thủy lợi (Bộ NN&PTNT), ngoài việc quy hoạch đầu tư xây dựng mới các công trình cấp nước nông thôn tập trung, chúng ta cần nâng cấp sửa chữa 20% số công trình hư hỏng, hoạt động kém hiệu quả (tương đương 450 công trình) và đến năm 2025, ít nhất 50% hệ thống cấp nước nông thôn phải lập kế hoạch cấp nước an toàn.

Để giảm áp lực ngân sách, nên đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong đầu tư, quản lý, vận hành các công trình cấp nước, chuyển đổi có lộ trình các trung tâm nước sạch ở địa phương sang công ty cổ phần. Quy hoạch phòng chống thiên tai và thủy lợi quốc gia ưu tiên giải pháp cân đối nguồn nước phục vụ cấp nước sinh hoạt nông thôn từ hệ thống công trình thủy lợi, xem xét giải pháp quy hoạch mở rộng các hồ trữ nước quy mô vừa và lớn, xây dựng kịch bản ứng phó với từng tình huống cụ thể mới quản lý được rủi ro, đảm bảo được yêu cầu cấp nước an toàn cho vùng nông thôn trong thời gian tới.

ĐẶNG TUẤN

 

;
.
.
.
.