Sông Đốc: Lễ hội Nghinh Ông - Nông Thôn Việt

Sông Đốc: Lễ hội Nghinh Ông

Thứ Năm, 08/12/2016, 11:05 [GMT+7]

 

Miếu thờ ‘’Ông Nam Hải’’ ở Thị trấn Sông Đốc.
Miếu thờ ‘’Ông Nam Hải’’ ở Thị trấn Sông Đốc.

“Vui gì bằng lễ Nghinh Ông

Đèn hoa, pháo nổ ngập sông, ánh trời” (Ca dao )

1.

Tháng hai ta, tui theo dì Út về Sông Đốc thăm họ hàng và sẵn thể, đi coi lễ hội Nghinh Ông cho biết. Trời đứng gió, hai dì cháu vừa chèo ghe tam bản xuôi dòng con nước ròng vừa chuyện vãn. Dì Út nói:

- Hồi trước, Sông Đốc có tên Khoa Giang. Nó xuất phát ở ngã ba Cái Tàu, Sông Trẹm chảy về hướng Tây đổ ra Vịnh Thái Lan. Đôi bờ sông bên phải, bên trái mọc nhiều con rạch: Cái Tàu, Giếng, Cui, Vọp... và đông đúc những xóm làng: Xóm Sở, Cán Dù, Nổng Kè, Ông Tự, Tham Trơi...nối đuôi nhau mọc lên, tạo nên bức tranh quê miền sông nước đẹp khôn tả!

Tui lơi tay chèo, hỏi dì:

- Sao dân gian không gọi Khoa Giang, vừa sang vừa có chữ?

Dì đá bánh lái, chuẩn bị quẹo khúc cua sông.

- Có lẽ, dân gian chuộng cái mộc mạc mà có nghĩa!

Rồi dì kể: Tương truyền rằng, Đô đốc Thủy binh Nguyễn Văn Vàng mặc áo hoàng bào của Nguyễn Vương để lừa và đánh lạc hướng quân Tây Sơn đang vây khốn Nguyễn Ánh cùng đoàn tùy tùng. Nguyễn Vương sống sót chạy về ngọn rạch Cái Rắn(1), Đô đốc Nguyễn Văn Vàng bị quân Tây Sơn giết. Cảm mến tấm lòng tận trung và trượng nghĩa của Đô đốc Nguyễn Văn Vàng, từ đó dân trong vùng gọi Khoa Giang là sông Đốc Vàng. Rồi tùy lúc, sông Đốc Vàng là sông Ông Đốc hoặc Sông Đốc.

Tui ngẫm nghĩ, chỉ có quê mình mới có tên người gắn liền với tên sông, tên đất chăng?

Trời trở cơn gió chướng thổi liu riu theo con nước lớn, ghe tam bản ngược dòng. Hai dì cháu giữ tay chèo và chèo thiếu điều hụt hơi, mồ hôi lả da lưng, ướt áo. Chợt nghe tiếng hò ai đó, cố đuổi ở phía sau: “Tháng giêng ăn Tết ở nhà/ Tháng hai cờ bạc, tháng ba hội hè”(2). Đương lúc mệt và bực mình gặp con nước ngược, lại nghe câu hò lãng xẹt, vô duyên. Dì Út hò sửa lưng: “Tháng giêng ăn Tết ở nhà/ Tháng hai rỗi rãi quay ra nuôi tằm”...

*

Lăng thờ “Nam Hải Đại tướng quân” ở khóm 2 thị trấn Sông Đốc, hằng năm tháng 2 ta, các ngày 14, 15, 16 diễn ra Lễ hội Nghinh Ông. Ngày 15 chính lễ, tui theo mấy đứa em bà con bạn dì, xếp hàng trong rừng hàng người dự lễ hội, quân ngũ nào đếm xiết. Dẫn đầu là lân, trống, kế là Chủ lễ thỉnh lư hương lên kiệu (long đình) cùng các vị chức sắc, học trò lễ... tiến ra bến cảng Sông Đốc. Tại đây, chủ lễ tiếp tục thỉnh lư hương bước lên ghe lớn. Và rồi, cùng lúc hằng trăm ghe tàu đủ loại đồng loạt theo ghe lớn ra khơi... sắc màu rực rỡ một vùng biển trời quê hương xanh lộng gió!

Theo tục cũ, tàu ghe phải “nghinh cho đến lúc Ông lên vọi”; nghĩa là, đến lúc gặp cá Ông phun nước lên trời, thì mới được dừng. Nay, đơn giản hơn, Chánh chủ lễ xin keo âm dương để cầu sự linh ứng sau khi đã tiến ra khơi một quãng khá xa. Được keo, đoàn tàu ghe quay về Lăng tiếp tục lễ.

Nơi Chánh điện thờ Ông Nam Hải. Hai bên, nhiều bộ xương cá Ông (cá Voi) bọc vải đỏ trang trọng. Đồng thời, còn có Tả, Hữu ban liệt vị trang nghiêm; thờ Tiên sư, Tiền hiền, Hậu hiền, Ngũ hành và Lang Lại (rái cá) Đại tướng quân.

Lòng thành mọi người quyện theo khói hương tràn ngập miền đất Sông Đốc!

2.

Trước khi về lại Vĩnh Thuận, đêm đó tui hỏi dì Út:

- Tại sao, người mình thờ cá Ông không gọi ‘’cá Ông’’, mà lại gọi ‘’Ông Nam Hải’’, hả dì?

Dì Út nói:

- Tùy hình dáng, tùy nơi cá Ông xuất hiện, người ta gọi tên khác nhau, như: Ông Khơi, Ông Lộng, Ông Chuông, Ông Sứa, Ông Kèn...Có một điều chắc chắn, người đi biển hay không đi biển đều tin rằng: Cá Ông còn gọi  cá Voi, vốn là Quán Thế Âm Bồ Tát hóa thân thành Ông Nam Hải để cứu nạn cứu khổ cho người đi biển. Do đó, trong tâm thức người có tâm linh, thờ Ông Nam Hải chính là thờ Quán Thế Âm Bồ Tát!

Dường như, dì đoán được ý tui hỏi tiếp nên dì nói luôn:

- Chuyện Nguyễn Ánh được hai con cá Ông cập mạn thuyền đưa đến nơi an toàn, sau khi bị quân Tây Sơn rượt chạy trối chết. Để rồi, lúc lên ngôi ông ta nhớ ơn cứu mạng nên phong tước vị cho cá Ông “Nam hải cự tộc, Ngọc Lân Thượng đảng thần” và truyền dụ các làng chài lập lăng, dựng miếu thờ. Đến đời Minh Mạng, vào ngày 27.11.1845, cá Ông được đặt tên “Nhân Ngư”, mà trước đó, Minh Mạng đã phong cho cá Ông “Đại Càng Nam Hải Đại tướng quân”. Về sau, triều đình nhà Nguyễn tiếp tục sắc phong cá Ông “Đại Càng Quốc gia Nam Hải” và lịnh thờ như một Thành Hoàng nơi đình miếu ở xóm làng.

Dù vậy, chẳng ai thờ cá Ông theo sắc phong của vua triều Nguyễn. Dân thờ cá Ông theo cách của dân: Ông Nam Hải!

*

Đêm sông nước Cà Mau vui hơn ngày, bởi tàu ghe qua lại nườm nượp trên sông, bởi tiếng hò lơ... trôi bồng bềnh trên mặt sóng! Tui trở mình thao thức, không vì lạ chỗ, không vì nhớ nhà... mà vì, nhịp sống nặng tình nghĩa và tình nghĩa đó, không thể thiếu phần tâm linh... biết sợ thất đức, cũng có nghĩa không dám làm điều ác.

Và, nếu như đã coi “Ông Nam Hải” là vị “phúc thần Nam Hải”, thì mong rằng, đừng coi phần “Hội” trọng hơn phần “Lễ”!

(1) Di tích còn lưu lại một nền trại lính, một cái ao mà dân sở tại gọi là Ao Vua.

(2) Quốc văn Giáo khoa thư Sơ đẳng, Nha học chánh Đông Pháp, Xb 1943.

Cao Thị Hoàng (Tạp chí Nông thôn Việt)

 

;
.
.
.