, //, :: GTM+7
Thứ Tư, 28/12/2016, 15:52

Bánh trôi nước cúng ma da vịnh Đá Hàn

TRẦN BẢO ĐỊNH

1.

Thường lệ, sau một ngày cực nhọc việc đồng áng, bác Hai gái thích dọn mồi nhậu để bác Hai trai cùng bạn cày, uống vài ba ly rượu đế theo bữa cơm chiều. Và, trong lúc rượu vào lời ra của họ, tôi hay lân la ngồi nghe ngóng chuyện khi, chưa qua cái tuổi nhổ giò!

- Anh Hai, trần gian ma có đủ loại, sao còn có loại ma da?

Tiếng chú Tám nửa như giỡn, nửa như đố vui uống rượu.

Không vội trả lời chú Tám, bác Hai trở đầu đũa, lận thịt lưng con cá lóc đồng nướng trui, cuốn bánh tráng. Gió chướng tháng hai thổi liu riu từ mặt sông Vàm Cỏ Tây về, khiến ai nấy đều thấy lòng phấn chấn. Đột nhiên, bác Hai hỏi:

- Tám, chú mầy biết ma da là ma gì không?

Chú Tám gãi gãi cái đầu.

- Đã không biết mới hỏi. Biết rồi, hỏi chi anh Hai?

- Hồi xưa, thời Nguyễn Ánh và Tây Sơn còn đánh nhau rộ sóc, làng mình có lúc thuộc châu Định Viễn, dinh Long Hồ; nhà cửa lưa thưa, rãi rác nằm chênh hênh trên doi đất cặp rạch Chanh. Con rạch Chanh khởi từ Long Định, ăn vào sông Vàm Cỏ Đông chếch về phía hạ lưu Bến Lức, xuyên qua sông Vàm Cỏ Tây, trổ ra sông Tiền. Nó kỳ thú ở chỗ, lúc rạch Chanh giáp nước sông Vàm Cỏ Tây thì, cái giáp nước đó tự dưng, thành xoáy nước dữ dội và tạo nên cái vịnh sâu hun hút. Chỉ nghe không cần thấy, cũng đủ ớn lạnh rùng mình!

Vịnh nằm phía dưới rạch Cần Đốt, trên rạch ông Tổng là, tọa độ chết đối với thuyền bè, ghe xuồng qua lại trên đoạn sông Vàm Cỏ Tây. Bao phương tiện đường thủy bị nhấn chìm bởi, sức hút của vòng xoáy nước huyền bí và biết bao sinh mạng người ở lại vĩnh viễn nơi cái vịnh quái ác nầy! Kẻ tới số chết kéo người chưa tới số, dương gian gọi nôm na là cộng số. Người chết thuộc loại cộng số, hồn ma vất vưởng và về đâu khi chưa tới số chết? Vì, không siêu thoát nên linh hồn quanh quẩn đáy sông dù thịt xương tan rã chỉ còn trơ lại đống da(?)

Nghe bác Hai nói, tôi nổi da gà và từng chập từng hồi, rởn tóc gáy. Ngoài sông, sóng nhấp nhô vỗ vào bờ nhóc nhách, âm âm buổi chiều chín vàng đất đồng xa...

Chú Tám uống nửa cái xây chừng, chuyền tay qua bác Hai.

- Lúc nhỏ, nghe má tui nói:Ma da là ma nước, ma rú là ma rừng. Ở đâu có người thì ở đó có ma? Không biết người ra ma hay, ma ra người?

Nhâm nhi ly rượu, chú Tám ''tình thiệt hỏi thiệt'', rằng:

- Anh Hai có bao giờ ''mục sở thị''con ma da chưa?

Bác Hai uống cạn nửa cái xây chừng còn lại, nhai trái ớt hiểm cho nồng lưỡi như, xua đuổi nỗi sợ rời khỏi miệng.

- Lần đó, nhớ đâu là trăng mồng mười thì phải, trăng bị những áng mây từng chập từng hồi che khuất nên, lúc tỏ lúc lu...Qua trên đường gánh lúa về, chợt thấy phía rẻo đất bờ sông cặp mé vịnh, nhiều đống đen xỏa tóc ngồi lù lù phía trước và khi sắp đến gần, nó chen nhau nhảy đùng đùng rớt xuống vịnh...

Bác Hai thuận tay, rót thêm rượu và nói tiếp:

- Bước tới chỗ chúng ngồi khi nãy, mặt đất nhớt lầy! Qua đứng chết trân. Mồ hôi trán nhỏ xuống mắt thành giọt, không biết vì sợ ma da hay vì mệt bởi, gánh lúa đường xa?

Như nhớ điều gì hệ trọng, chú Tám trở bộ ngồi xếp bằng cặp giò.

Gió sông thổi mạnh làm đọt nắng lung linh trên từng ngọn cau trước ngõ.

Chú Tám tự sự:

- Sinh thời, má tui thường nhắc bầy con thận trọng những lúc tắm sông. Bọn ma da rình rập, chực chờ rút giò và lôi người xuống tận đáy sông chết ngộp. Tui hỏi, sao nó ác vậy má? Má nói, vì cái lợi bản thân, nó nhẫn tâm giết người. Rồi má cắt nghĩa: Giết người đủ chỉ tiêu thế phận ma da, nó sẽ rời chốn nước sông lạnh lẽo lên gò cao, bám đầu cây ngọn cỏ. Má bắt buộc mỗi đứa con phải đeo cái kiềng sắt ở cổ chưn. Có lẽ, lũ ma da sợ sắt chăng?

Bác Hai phụ họa theo chú Tám.

- Không muốn kẻ ngộp nước chết ở sông thành ma da, người đời rước thầy lập trai đàn mần lễ ''vớt vong''!

- Mần sao vớt cái vong cho kỳ đặng, anh Hai?

Chú Tám muốn rõ chuyện để thông.

Bác Hai từ từ cắt nghĩa:

- Nhà Phật gọi lễ vớt vong là, ''Thủy lục trai đàn''.Tức cầu siêu cho những vong linh không chỉ ở đất liền mà cả ở dưới nước. Ban Kinh Sư lập trai đàn cạnh bờ sông, phẩm vật cúng chủ yếu:Gạo, muối, cháo trắng;cờ phướn treo rợp trời, chuông mõ kêu vang dội. Thầy Cả ngồi bắt ấn ''Chuẩn Đề'', ban Kinh Sư tụng chú Đại Bi, chú Vãng Sanh...triệu tập vong linh về chùa nghe kinh kệ, không đói lạnh đi quấy phá bá tánh!

2.

Đồng Tuyên vỡ trận, Tây Sơn rượt đuổi Nguyễn Ánh chạy xấc bấc xang bang về hướng vịnh Đá Hàn. Một tuyệt lộ vì, không thể bơi qua vịnh sang sông. Vòng xoáy nước nghiệt ngã chắc chắn nhận chìm Ánh xuống vực sâu. Ánh quỳ mọp hôn đất, van lạy trời cứu mạng.

Tương truyền, trời đương quang mây tạnh bỗng tối sầm, bầy ma da đẩy đá nổi lên hàn sông và bít mặt vịnh. Ánh cưỡi trâu lội nước sang sông. Nhớ ơn cứu nạn, về sau Nguyễn Ánh cho đặt tên vịnh là Đá Hàn. Từ đó, thiên hạ gọi vịnh Đá Hàn và dân sở tại sống nghề hạ bạc, cất đình thờ cúng ma da giữ yên sông nước.

Có người hỏi:

- Sao không thờ cúng hà bá mà, thờ cúng ma da?

Bác Hai, nói:

- Đó chẳng qua truyền thuyết, đời nhà Tống niên hiệu Hoằng Nông, Phùng (Bằng) Di, người Đê Thủ vùng Hoa Âm, qua sông vào ngày Canh đầu tháng 8 bị chết đuối. Thiên Đế phong làm Hà Bá trông coi việc giữ sông.

...Mắc mớ chi người mình phải phụng, phải thờ? Dẫu rằng, tục ngữ của ta có câu:''Đất có thổ công, sông có hà bá''.

Đầu thế kỷ trước, hằng năm cứ đến ngày tết Hàn Thực mồng 3 tháng 3 âm lịch, dân bổn địa trong làng tề tựu dâng hương hoa, quả và cúng bánh trôi nước tại đình thờ ma da mé vịnh Đá Hàn. Âu là, một cách cầu quốc thái dân an, một kiểu Nguyễn Ánh trả ơn ma da cứu mạng?

Chú Tám thắc mắc:

- Anh Hai, bộ anh quên tết Hàn Thực từ tích Giới Tử Thôi, phò Trùng Nhĩ thời Đông Chu mà sau nầy lên ngôi, là Tấn Văn Công?

Bác Hai cười nói:

- Người Trung Hoa coi tết Hàn Thực là giỗ Giới Tử Thôi, người mình coi tết Hàn Thực là ngày cúng cầu ''Âm siêu dương thới''. Tháng 3 là tháng Thìn, ''Rồng đi kỵ lửa''.Tên gọi có thể tên trùng tên nhưng, hình thức và nội dung thì của ai nấy cúng, của ai nấy giữ, chẳng giống nhau!

Rồi bác Hai, nói thêm:

- Cúng ma da bằng bánh trôi nước, nghĩa là cúng bánh chay. Người đời tin rằng, ma da ăn chay sẽ mau cải số đơn lạnh và có thể, có dịp thay đổi kiếp luân hồi(?).

Nói xong, nét mặt bác Hai buồn so.

Chú Tám dợm rót thêm rượu, bác Hai lấy tay ngăn lại.

- Thôi, vừa rồi chú mầy!

Nét buồn so vẫn còn phảng phất trên nét mặt ''dải nắng dầm mưa'', một đời ''tay lấm chưn bùn'' của bác.

Giữa thinh lặng bác Hai nói như, nói với người đã khuất:

- Bụi thời gian cũng có thể vô tình, cũng có thể hữu ý phủ lên bao chuyện đời mà lẽ ra, không nên phủ. Nhiều triều đại đi qua, nhiều lớp người nằm xuống; loạn lạc, chiến tranh...những cái cần giữ không thể giữ, những điều tưởng thực hóa ra không thực...đình xưa còn đó, dù đổi họ thay tên; tục hay lãng quên, nếp cũ xóa bỏ. Thử hỏi:Mình có nói ai biết, ai tin? Tất cả thuộc về quá khứ?

Chú Tám nói hớt và nối câu nói của bác Hai:

- Lời nói vọt ra khỏi miệng thì, lời nói đó cũng đã là thuộc về quá khứ!

Rồi, chú Tám hỏi lật ngửa:

- Ý anh Hai nói, đình ma da ngày trước, bây giờ là đình ấp 1 xã Hướng Thọ Phú?

Giọng bác Hai nấc cụt.

- Đã mần vậy, chả còn gì tâm linh!?

Như xả nỗi buồn, bác Hai nói luôn:

- Người dương kẻ âm, hễ ''âm siêu''ắt ''dương thới''. Mình có lòng với họ thì, họ có lòng với mình!

Mí nắng chiều sụp xuống sau rặng trâm bầu! 

3.

- Trời chạng vạng rồi, cơm nước đi mấy ''ông tướng miệt ruộng'', kẻo ăn thầm!

Tiếng bác Hai gái giục.

Rồi, chẳng hiểu sao, bác gái đế một câu xanh dờn gửi theo khói bếp:

- Sợ là sợ ma thịt, sợ chi thứ ma…da(!?)

Tags

Bình luận

Xem nhiều





Nổi bật
Được quan tâm





Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất