, //, :: GTM+7
Thứ Hai, 01/01/2018, 07:00

Gỡ "nút thắt" thị trường cho vùng Đồng bằng sông Cửu Long

BAN DUNG

Trong khuôn khổ Hội nghị đánh giá kết quả 2 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 120/NQ-CP của Chính phủ về phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH), Bộ NN&PTNT đã tổ chức Diễn đàn chuyên đề “Tái cơ cấu nông nghiệp (NN) thích ứng với BĐKH vùng ĐBSCL” với sự tham gia của đại diện các ban, ngành Trung ương, địa phương, các đối tác quốc tế, doanh nghiệp và chuyên gia.

Tại Diễn đàn, nhiều đại biểu cùng thống nhất yếu tố thị trường là một trong những vướng mắc cần nhanh chóng được tháo gỡ để việc thực hiện tái cơ cấu NN vùng ĐBSCL đạt hiệu quả.

Còn nhiều điểm nghẽn

Theo Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Lê Quốc Doanh, trong giai đoạn 2016 - 2018, cơ cấu sản xuất của vùng ĐBSCL chuyển dịch tích cực theo hướng thị trường, thích ứng hơn với BĐKH, đảm bảo chất lượng và năng lực cạnh tranh: tăng thủy sản, trái cây; giảm lúa. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình chuyển dịch cơ cấu và đổi mới tổ chức sản xuất ở ĐBSCL còn chậm, chưa có nhiều chuỗi giá trị hoàn chỉnh.

Phát biểu tại Diễn đàn, GS Võ Tòng Xuân, Hiệu trưởng Trường Đại học Nam Cần Thơ nhận định rằng Nghị quyết 120 thực sự đã tháo gỡ “vòng kim cô” cho vùng ĐBSCL. Cụ thể, các địa phương đã có thể giảm diện tích lúa để lựa chọn cây trồng có giá trị cao hơn, hoặc chuyển sang nuôi thủy sản có giá trị kinh tế. Tuy vậy, thách thức lớn của ĐBSCL trong việc tái cơ cấu ngành NN thích ứng với BĐKH chính là thiếu đầu ra ổn định cho sản phẩm, chưa quy hoạch tổng thể được cơ cấu ngành cho toàn vùng.

Nguyên Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Bùi Bá Bổng cho biết thêm, hiện tại ĐBSCL đang phổ biến 3 mô hình, gồm chuyển từ lúa sang cây ăn trái, chuyển từ lúa sang cây trồng cạn, chuyển từ lúa sang thủy sản. Trong đó, mô hình chuyển từ lúa sang trái cây tuy cho hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với lúa nhưng nông dân vẫn đang đối mặt với những rủi ro về thị trường tiêu thụ.

 

Ở góc nhìn từ địa phương, ông Lê Văn Nưng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh An Giang cho biết, thời gian qua tỉnh An Giang đã tập trung vào liên kết sản xuất giống cá tra chất lượng cao, phát triển diện tích rau màu, các sản phẩm dược liệu và chăn nuôi bò. Tuy nhiên, đến nay diện tích chuyển đổi chưa đạt tiến độ như kế hoạch đề ra. Nguyên nhân là do thị trường tiêu thụ các sản phẩm chuyển đổi chưa ổn định, các mặt hàng rau quả, trái cây gặp khó về tiêu chuẩn kỹ thuật.

Theo ông Nguyễn Thanh Hùng, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đồng Tháp thì hiện có 2 nút thắt lớn đang cản trở sự phát triển của vùng ĐBSCL, đó là thị trường và giao thương. Cách trở giao thông khiến hệ thống logistics khó phát triển, giao thương nội vùng hay liên vùng đều khó khăn.

Ở một khía cạnh khác, ông Trần Hoàng Tựu, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long cho rằng việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng còn gặp nhiều vướng mắc về đất đai. Cụ thể, các địa phương đều được khuyến khích giảm diện tích trồng lúa, chuyển đổi sang các loại cây trồng, vật nuôi khác mang lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Nhưng việc chuyển đổi các vùng đất lúa trên 10ha vẫn phải báo cáo xin ý kiến Chính phủ, điều này khiến thời gian chuyển đổi bị kéo dài. Một khó khăn khác của Vĩnh Long cũng như các tỉnh trong khu vực là thiếu kinh phí và nguồn nhân lực để thực hiện các dự án sản xuất NN, quy hoạch hệ thống thủy lợi ứng phó với biến đổi khí hậu.

Đâu là giải pháp?

Tại Diễn đàn, các đại biểu đều có cùng quan điểm, muốn chuyển đổi cây trồng, vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế thiết thực cho người nông dân, phải xây dựng được thị trường tiêu thụ nông sản theo quy luật cung cầu. Vì vậy, GS Võ Tòng Xuân hiến kế: Cần quy hoạch lại các địa bàn NN để bố trí vùng trồng lúa nào cần được thay thế, khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư sản xuất cây trồng, vật nuôi có thị trường tiêu thụ ổn định. Từ đó, Nhà nước, địa phương và doanh nghiệp cùng nhau tổ chức sản xuất lại tại vùng có quy hoạch mới.

Theo bà Phạm Hoàng Vân, chuyên gia tư vấn của Tập đoàn Tài chính Quốc tế - Ngân hàng Thế giới (WB), phần lớn tăng trưởng NN Việt Nam cho đến nay đều dựa vào mở rộng sản xuất hoặc tăng cường sử dụng đất và các tài nguyên thiên nhiên khác, sử dụng khá nhiều phân bón và các hóa chất trong NN. Hầu hết sản phẩm NN của Việt Nam đều bán ở dạng thô.

 

Vì vậy trong tương lai, ngành NN ở ĐBSCL phải đảm bảo "tăng giá trị, giảm đầu vào". Điều này sẽ đòi hỏi cần có sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất, tổ chức sản xuất và hiệu quả chuỗi giá trị, tổ chức đầu ra cho sản phẩm… Cụ thể, bà đề nghị nên sản xuất ít gạo hơn, thay vào đó, đẩy mạnh sản xuất gạo chất lượng cao và gạo đặc chủng để tăng hiệu quả kinh tế.

Các đại biểu cũng cho rằng, cần sớm ban hành Chương trình tổng thể phát triển NN bền vững thích ứng BĐKH vùng ĐBSCL để các địa phương có cơ sở ban hành kế hoạch thực hiện một cách cụ thể, đồng bộ.

Bên cạnh đó, Chính phủ và các bộ, ngành cần điều chỉnh chính sách đất đai và đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, đặc biệt là mạng lưới giao thông nhằm cắt giảm chi phí, tạo thuận lợi cho việc tổ chức sản xuất, vận chuyển, lưu thông hàng hóa từ ĐBSCL đi các vùng khác và xuất khẩu.

Các địa phương trong vùng cần chú trọng phát triển kinh tế tập thể và tăng cường hiệu quả liên kết sản xuất – tiêu thụ nông sản. Đồng thời đẩy mạnh việc ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất, chế biến để tăng năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng cho nông sản.

Bộ NN&PTNT đang nhanh chóng hoàn chỉnh Chương trình tổng thể phát triển NN bền vững thích ứng BĐKH vùng ĐBSCL với định hướng:

- Cơ cấu lại NN ĐBSCL gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng và xây dựng nông thôn mới, nhằm tạo đột phá trong phát triển NN hiện đại, bền vững, nâng cao giá trị gia tăng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao chất lượng, hiệu quả xây dựng nông thôn mới, cải thiện nhanh hơn đời sống của nông dân, góp phần xóa đói giảm nghèo, bảo vệ môi trường vùng ĐBSCL. Chủ động thích ứng với thay đổi của điều kiện tự nhiên và thị trường, tập trung xử lý các yếu tố nội tại, cùng với sử dụng hiệu quả tài nguyên, nguồn nhân lực, khoa học công nghệ, biến nguy cơ thành thời cơ. Phát triển NN ĐBSCL bền vững theo 3 vùng (vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển). Dựa trên biến động về nguồn nước, tính thích nghi về đất đai và nhu cầu thị trường, các ngành hàng chiến lược được phân thành vùng an toàn, vùng chuyển đổi và vùng linh hoạt. Xoay trục chiến lược sang thủy sản - trái cây - lúa gạo. Phát huy ưu thế của các sản phẩm đặc thù địa phương có giá trị. Phát triển ĐBSCL thành vùng du lịch NN, sinh thái đặc thù.

- Ưu tiên tạo đột phá trong phát triển chế biến và thương mại hóa chuỗi giá trị NN và nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ để giải quyết 3 khâu là giống, thức ăn cho thủy sản, chăn nuôi và chế biến nông lâm thủy sản. Đến năm 2025, xác định được bộ giống tốt nhất cho 3 ngành hàng chủ lực (thủy sản, trái cây, lúa). Đến năm 2030, làm chủ nguồn giống trong nước và vươn tầm quốc tế. Tăng cường thâm canh bền vững, giảm tối đa sử dụng vật tư (phân hóa học, thuốc BVTV), bảo vệ môi trường, đảm bảo vệ sinh ATTP. Phát triển các trung tâm hỗ trợ kỹ thuật cho vùng chuyên canh, các cụm/khu công nghiệp chế biến, các hệ thống thương mại hậu cần, chuỗi bảo quản lạnh để kết nối thị trường.

- Quy hoạch tích hợp, đa ngành, lĩnh vực, thực hiện đồng bộ các giải pháp “không hối tiếc” có điều phối liên vùng, liên kết ngành với sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị toàn vùng. Huy động nguồn lực tổng thể của nhà nước, các thành phần kinh tế, toàn dân, hợp tác quốc tế.

- Tổ chức sản xuất NN hàng hóa theo các vùng (vùng thượng, vùng giữa và vùng ven biển) và các lĩnh vực, ngành hàng chiến lược, chủ lực của vùng ĐBSCL theo hướng thị trường, hiện đại, bền vững, phát huy lợi thế so sánh, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Bình luận

Xem nhiều





Được quan tâm

Sau nhiều tháng đóng cửa do Chỉ thị 16, nhiều quán bar, pub, beer club ở phố đi bộ Bùi Viện, Q1, TP.HCM đã mở cửa trở lại, nhưng dưới một hình thức khác. Đó là trở thành những cửa hàng bán rau, củ, quả, thịt, cá, nhu yếu phẩm. Đây là cách mà các chủ cơ sở kinh doanh thực hiện để tạm thời có thu nhập khi loại hình kinh doanh thức uống có cồn, tụ tập đông người chưa được phép mở cửa trở lại.
1
Nổi bật



Là nhạc cụ, là vật dụng điều binh khiển tướng trong chiến tranh. Là đồ thờ, là của cải để thể hiện sự giàu có và uy quyền…? Trống là tất cả những thứ đó. Bởi thế nên có những làng nghề làm trống vẫn tồn tại qua hàng ngàn năm lịch sử.

Việc thành lập các tổ đoàn kết đã giúp việc vươn khơi bám biển để đánh bắt hải sản và bảo vệ chủ quyền biển đảo Tổ quốc của ngư dân Hội An hiệu quả hơn.


Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất