Pascal Bourdeaux: Tôi hiểu văn hóa miền Tây qua Sơn Nam - Nông Thôn Việt

Pascal Bourdeaux: Tôi hiểu văn hóa miền Tây qua Sơn Nam

Thứ Tư, 18/01/2017, 10:03 [GMT+7]

Tôi quen anh Pascal Bourdeaux, Tiến sĩ Sử học - đại diện Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh - khi anh là diễn giả của hội thảo “Sơn Nam hay tính đối ngẫu của một tác phẩm”. Ở đó, anh đã chinh phục đông đảo người dự về tâm huyết và những kiến giải phong phú, thú vị của mình đối với các tác phẩm của nhà văn Sơn Nam.

Pascal Bourdeaux, Tiến sĩ Sử học - đại diện Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh.
Pascal Bourdeaux, Tiến sĩ Sử học - đại diện Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp tại thành phố Hồ Chí Minh.

Vào miền Tây qua “lối” Sơn Nam

 Năm 1999, khi được chính phủ Pháp cấp học bổng để sang Việt Nam vừa học vừa nghiên cứu, anh học tiếng Việt trong ba tháng ở Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn thành phố Hồ Chí Minh. Năm 2001, anh học tiếp một năm ở Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội. Anh bảo cái khó của tiếng Việt không phải ở ngữ pháp, văn phạm, mà ở chính các ngữ cảm và ngữ cảnh, nếu biết không đủ thì không thể nào hiểu, và càng không thể thảo luận, viết bài. Vì thế, anh chọn cách tiếp xúc trực tiếp với ngôn ngữ đời thường để trau dồi khả năng dùng tiếng Việt.

Tiếp đến, khi nghiên cứu Việt Nam, thường rất nhiều nhà nghiên cứu người Pháp chọn lịch sử thuộc địa, ảnh hưởng của văn hóa Pháp đối với Việt Nam… Nhưng Pascal bảo anh không muốn đi vào lối mòn, việc dễ ấy nữa. Thế nên năm 1999, khi làm luận án tiến sĩ sử học ở trường Cao học thực hành Pháp (École Pratique des Hautes Études) anh đã chọn đề tài hoàn toàn mới là “Sự ra đời và phát triển của cộng đồng Phật giáo Hòa Hảo. Đóng góp cho lịch sử xã hội ở đồng bằng sông Cửu Long của Việt Nam”. Và chính sự khai phá này đã dẫn anh đến một cơ duyên.

Muốn hiểu miền Tây Nam bộ thì phải đọc sách của nhà văn Sơn Nam. Pascal biết điều ấy sau khi cố vấn cho đạo diễn Jean-Jacque Annaud làm phim L’Amant (Người tình). Anh tìm đọc sách Tìm hiểu đất Hậu Giang, Lịch sử đất An Giang và một số cuốn biên khảo khác của Sơn Nam về miền Tây. “Tôi bắt đầu nghiên cứu về ông từ đó. Sơn Nam chính là lối vào để tìm hiểu văn hóa miền Tây mà ông gọi là văn minh sông nước. Từ năm 2004 đến năm 2005, tôi gặp ông Sơn Nam nhiều lần tại thư viện quận Gò Vấp, thành phố Hồ Chí Minh. Chúng tôi uống cà phê và trò chuyện trên trời dưới đất khi bằng tiếng Việt lúc bằng tiếng Pháp. Tiếng Pháp của Sơn Nam tuy cổ nhưng ông dùng rất tốt”, Pascal nhớ lại.

Theo nhận xét của Pascal, Sơn Nam là một pho từ điển về đồng bằng sông Cửu Long. Dường như ông đọc hết các loại sách về vùng này, sau khi thẩm thấu chúng, ông biến những thứ đọc được thành của mình, rồi cùng với trải nghiệm của bản thân, ông viết truyện ngắn, biên khảo. Có lần Pascal hỏi ông tại sao không viết bằng tiếng Pháp, Sơn Nam trả lời vì đó không phải là tiếng mẹ đẻ của ông. Sơn Nam cho biết ông học được rất nhiều trong sách tiếng Pháp và sử dụng có phê phán trong tác phẩm của mình. Chính đây là khía cạnh Pascal quan tâm.

Phương pháp của Sơn Nam chủ yếu dựa vào trải nghiệm để viết sách theo hai phong cách là văn chương và biên khảo. Hai thứ đó bổ sung cho nhau. Sống với nhiều người thuộc các thành phần, dân tộc khác nhau nên Sơn Nam có nền văn hóa phong phú. Rồi ông lại tìm tư liệu để bổ sung cho trải nghiệm. Sơn Nam trở thành người phát ngôn của người dân đồng bằng sông Cửu Long. Nhờ ông mà ta hiểu đồng bằng sông Cửu Long không bằng phẳng, đồng nhất mà có rất nhiều tiểu vùng khác nhau về thổ nhưỡng, khí hậu, cách sống, cách nói của người dân (tiếng bình dân, tiếng lóng). Cách nói thể hiện nét văn hóa của vùng đất, đó chính là văn chương, là dân tộc học. Nếu không ghi lại trong văn chương thì rồi nó sẽ mất đi. Sơn Nam không chỉ ghi lại tiếng nói của người dân mà ông còn sáng tạo ra một số từ mới, đến nay vẫn được người ta sử dụng. Thí dụ, ông đã phổ cập hóa thành ngữ miệt vườn và đã tạo ra từ ngữ mới (neologism) “văn minh miệt vườn: orchard civilisation” để nói về các đặc điểm phân bổ nông nghiệp của Vĩnh Long và Bến Tre. Ông cũng đề nghị gọi châu thổ sông Mékong là “văn minh sông nước: riverine civilisation” để mô tả chức năng trung tâm của các đường thủy (sông, kinh đào, biển duyên hải) trong đời sống hàng ngày, trong kinh tế và trong các tín ngưỡng bình dân, những quan hệ và trao đổi với các miền khác của Việt Nam và với các nước Đông Nam Á (Campuchia, Thái Lan, Malaysia, Singapore). 

Những suy nghĩ của Sơn Nam rộng mở hơn khi các nhà khảo cổ học người Pháp khai quật di tích Óc Eo để khám phá ra vương quốc Phù Nam. Khi khai quật (năm 1940), Sơn Nam đang làm việc ở Rạch Giá nên ông đến huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang chứng kiến, tìm hiểu. Ông nhận ra vùng đất này có cả ngàn năm văn minh tích tụ. Đó là cảm hứng để ông viết các tác phẩm Văn minh miệt vườn, Văn minh sông nước… Ông lý giải cả môi trường vùng đồng bằng sông Cửu Long gắn với nước, con người sống giữa nước, đó là điều rất quan trọng để hình thành văn hóa, văn minh.

“Mê Sơn Nam như vậy, anh có mê luôn cả những nơi ông đã từng sống và viết?” Trả lời câu hỏi của tôi, Pascal đầy tiếc nuối. Anh đi đi lại lại miền Tây nhiều lần nhưng không bao giờ có được cảm giác thỏa mãn. Chả là, ngày Sơn Nam còn sống, anh đã mong muốn cùng ông và một nhà làm phim đi thuyền một chuyến từ thành phố Hồ Chí Minh dọc ngang sông nước miền Tây. “Chúng tôi sẽ trở lại những nơi Sơn Nam đã sống và viết để nghe ông kể chuyện đời mình, nghe ông giải thích những chuyện mình đã nghe, đã gặp đã chắt lọc thế nào để đưa vào tác phẩm. Đó chắc chắn là một bộ phim rất hay. Tiếc là ý tưởng đó không thành hiện thực!,” Pascal buồn bã.

Một điều đáng tiếc nữa của anh là các tác phẩm của Sơn Nam hiện giờ chưa được dịch sang tiếng Pháp, Anh và nhiều thứ tiếng khác. Để tháo gỡ chuyện này, trước mắt anh sẽ xúc tiến dịch tiếp những tác phẩm tiêu biểu của ông sang tiếng Pháp. Anh và những người cộng sự của mình đã từng dịch một số truyện ngắn trong tập truyện Hương rừng Cà Mau sang tiếng Pháp và hiện các tác phẩm này đang được giảng dạy và nghiên cứu tại Đại học Paris 7.

Nhiều dự định

Đang là giảng viên môn lịch sử tôn giáo Đông Nam Á tại trường Cao học thực hành Pháp, tháng 9 năm 2012, Pascal sang Việt Nam làm đại diện Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp (EFEO) tại thành phố Hồ Chí Minh. Nhiệm kỳ ba năm của anh kết thúc vào cuối tháng 8 năm 2015. Ba năm, anh và EFEO đã phối hợp với Cục Văn thư và lưu trữ nhà nước, Bảo tàng tỉnh Lâm Đồng tổ chức triển lãm ảnh và bản đồ quy hoạch Đà Lạt nhân kỷ niệm 120 năm ngày thành lập, tại thành phố Hồ Chí Minh là triển lãm bản đồ quy hoạch Sài Gòn, triển lãm tranh dân gian Việt Nam, triển lãm ảnh “Tính đa dạng của Việt Nam”… EFEO ở thành phố Hồ Chí Minh phối hợp với Viện Khoa học xã hội vùng Nam bộ đang nghiên cứu thủy lợi miền Nam theo góc nhìn xã hội học, trường hợp hồ thủy lợi Phước Hòa (thuộc huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước và các huyện Phú Giáo, Bến Cát, Dầu Tiếng của tỉnh Bình Dương). Cá nhân anh đã hoàn thành nghiên cứu về xã Nam Thái Sơn, huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang về quá trình di dân liên quan đến việc quản lý thủy lợi. Anh cũng sẽ in sách về đề tài này. Nghiên cứu về truyện thơ Lục Vân Tiên (Nguyễn Đình Chiểu) được in vào tháng 9 năm 2015. Đây là bản thảo 335 trang, hơn 1.200 tranh vẽ do ông Eugene Gibert đặt hàng một nghệ nhân (hoặc họa sĩ) có tên viết ngoài bìa là Le Duc Trach vẽ ở Huế trong khoảng 1895-1897. Năm 1899, ông Eugène Gilbert tặng lại tác phẩm này cho Viện hàn lâm Văn ký và mỹ văn (thành viên của Viện hàn lâm Pháp) và nằm yên ở đó cho đến ngày 30 tháng 9 năm 2011 được ông Phan Huy Lê, Giáo sư Sử học - Chủ tịch Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, và anh phát hiện. Khi được hỏi lý do nào làm anh say mê đất nước này đến vậy? Pascal mang đến cho tôi thêm một bất ngờ nữa khi trả lời: “Tôi đang nghiên cứu quê ngoại của mình mà”. Hóa ra, bà ngoại của anh quê ở tỉnh Nam Định, sang Pháp năm 1955. Trong tương lai, ngoài nghiên cứu về làng xã ở miền Tây Nam bộ, nghiên cứu về tín ngưỡng dân gian, về tôn giáo, anh cũng sẽ nghiên cứu về gia phả dòng họ ngoại của mình.

“Không quan tâm đến bảo tồn thì không sưu tầm tài liệu văn hóa vật thể và phi vật thể. Không nhớ quá khứ thì không có tương lai. Trung tâm lưu trữ quốc gia II có quá nhiều tài liệu về Sài Gòn, về miền Nam mà rất tiếc là có quá ít người tìm hiểu. Viện Viễn Đông bác cổ của Pháp đã xuất bản rất nhiều sách hay về Việt Nam mà rất tiếc là có quá ít đơn vị xuất bản ở Việt Nam quan tâm để dịch và in ở Việt Nam,” anh Pascal buồn bã chia tay tôi.

Đỗ Quang Tuấn Hoàng

 

;
.
.
.