, //, :: GTM+7
Thứ Tư, 12/10/2022, 06:00

Kết chạ - sâu đậm nghĩa tình cộng đồng

ĐÔNG KHÁNH
Tục kết chạ (kết nghĩa) giữa hai làng bằng những khế ước, quy ước và lời thề sắt son là nét văn hóa độc đáo được duy trì từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nhiều làng quê ven sông Cầu.

Kết chạ góp phần quan trọng trong việc gắn kết các cộng đồng cư dân, khơi gợi tinh thần sẻ chia, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Lịch sử các làng kết chạ vùng ven sông Cầu còn lưu truyền nhiều câu chuyện nghĩa tình làm xúc động lòng người… 

Các cụ cao niên trong làng Kim Thượng đi đón dân anh Trâu Lỗ.

Tình huynh đệ - nghĩa thâm giao

Làng Hương Câu và làng Phúc Linh thuộc xã Hương Lâm, huyện Hiệp Hòa (tỉnh Bắc Giang) từ lâu đã cùng kết chạ. Thời gian trôi qua, hai làng Hương - Phúc ngày nay vẫn khắc sâu lời thề ước cũ của các thế hệ tiền nhân: “Tình huynh đệ, nghĩa thâm giao/Dưới dày có đất trên cao có giời”.

Dẫn tôi đi quanh làng, ông Tạ Đăng Thùy - trưởng thôn Phúc Linh - kể: “Không ai nhớ nguồn cơn cũng như việc kết chạ giữa Hương Câu - Phúc Linh có từ thuở nào. Chỉ biết các cụ xưa đã có giao ước rất rõ ràng và con cháu hôm nay cứ thế thực hiện theo”. Theo ông Thùy, sau nhiều năm kết chạ, đến năm 1988, để duy trì và củng cố tình thâm, cả hai làng đã thống nhất lập lại quy ước mới có tên "Mối tình Hương - Phúc" gồm 5 điều bắt buộc: tình cảm hai làng luôn phải tuân theo sự chỉ đạo của Đảng, chính quyền; dân hai làng phải khiêm nhường, tôn kính lẫn nhau; thương yêu, đùm bọc lẫn nhau không kể người già hay trẻ nhỏ; thường xuyên quan tâm đến nhau về mặt tinh thần; thăm hỏi, chia sẻ lẫn nhau những lúc khó khăn hoạn nạn; nếu muốn thay đổi hương ước chung cần phải có sự đồng thuận của cả hai bên… 

Có một điều đặc biệt là dân hai làng Hương - Phúc, bất kể tuổi tác thế nào, đều gọi nhau là anh chị và xưng em để tỏ lòng tôn trọng nhau. Ví như một cụ già ở làng Hương Câu khi gặp một em bé ở làng Phúc Linh thì vẫn gọi em bé đó là anh và xưng em; ngược lại, dân Phúc Linh cũng đối đáp với dân Hương Câu tương tự.

Các cụ thượng làng Hương Câu - Phúc linh gặp nhau ngày xuân.

Tò mò về lời đồn trai gái hai làng kết chạ thì không được lấy nhau, một cụ cao tuổi ở Phúc Linh xác nhận với tôi và nói thêm: xưa nay hai làng chưa có ai vi phạm, duy có một trường hợp xảy ra đã lâu, người con trai làng Hương Câu đi làm ăn xa quen và yêu một cô gái sống ở xã Bắc Lý nhưng gốc ở làng Phúc Linh, sau đó dân hai làng đã biết và can thiệp, đôi trẻ đã hiểu ra và sau đó nhận nhau như anh em với tình cảm trong sáng. Các cụ và chính đôi bạn trẻ cũng sợ những mối quan hệ riêng làm ảnh hưởng đến truyền thống sâu nặng giữa hai làng.

Thi thoảng có nhóm thanh niên ở hai làng không biết nhau đã gây sự với nhau, nhưng khi biết là người làng kết chạ thì lại “đổi giận làm lành’, bắt tay, xin lỗi nhau. Trường hợp quá căng, không tự giải quyết được thì cán bộ thôn, người già trong làng phải đích thân sang làng chạ anh xin lỗi.

“Tháng 9/2015, làng tôi cất nóc dựng chùa. Từ sáng sớm, “dân anh” làng Hương Câu huy động hơn 500 người đủ cả già trẻ gái trai cộng thêm 200 triệu đồng xuống hỗ trợ chúng tôi lợp ngói. Chưa đầy hai tiếng, gần 5 vạn ngói được lợp xong. Chúng tôi xúc động, cảm kích lắm”, ông Linh nhớ lại. 

Cũng trong tình cảm đó, trận lũ năm 1977, khi nước vừa rút khỏi cánh đồng Vao của làng Phúc Linh thì từ 4 giờ sáng, “dân anh” Hương Câu huy động cả trăm người và hàng chục trâu bò sang cấy giúp Phúc Linh cho kịp vụ. Chỉ một ngày, mấy cánh đồng lớn đều cấy xong. 

Đối lại, có năm lúa đồng Hương Câu chín rũ không kịp cắt, trời lại sắp có bão, thế là hàng trăm người dân Phúc Linh mang quang gánh, liềm hái kéo lên giúp dân Hương Câu gặt lúa trước khi bão đến. Gần hơn, năm 2001 làng Hương Câu tôn tạo đình làng. Buổi sáng làm lễ hạ giải thì khoảng 12 giờ trưa, “dân anh” Phúc Linh cho hai xe công nông chở người và 50 đôi sảo cùng hơn 200 người đi xe đạp lên giúp. Hương Câu chưa kịp nổi trống huy động bà con làng mình đi làm thì dân Phúc Linh đã tề tựu trước sân đình. Chỉ hơn một tiếng đồng hồ, 14 vạn ngói trên mái đình được hạ giải. Một tuần sau, “dân anh” Phúc Linh lại chở lên 7 vạn ngói và mang 27 triệu đồng giúp “người anh em” tôn tạo đình Hương Câu...

Chùa làng Phúc Linh được tu bổ với sự giúp đỡ của dân anh Hương Câu.

Kim Lũ – Trâu Lỗ và lời thề trăm năm

Hơn bốn trăm năm qua, “Dẫu cho vật đổi sao dời/Tử sinh vẫn giữ lấy lời tử sinh”, người dân làng Kim Thượng ở xã Kim Lũ (Sóc Sơn, Hà Nội) và Trâu Lỗ của xã Mai Đình (Hiệp Hòa, Bắc Giang) vẫn không ngừng vun đắp tình cảm do cổ nhân truyền lại. 

Ngược dòng lịch sử, năm 1592 thôn Kim Thượng (Sóc Sơn, Hà Nội) mở hội tế thành hoàng làng bằng một con trâu trắng to khoẻ nhất, cầu được bình an, mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt. Đang lúc lễ tế bỗng dưng con trâu trắng lồng lên, trực chỉ hướng mặt trời mà chạy. Trâu vượt qua sông Cầu, sang nằm phủ phục trước ngôi đình của làng Trâu Lỗ (Hiệp Hòa), nơi thờ thần Trương Hống - Trương Hát (hai vị anh hùng dân tộc có công giúp Triệu Quang Phục đánh đuổi giặc Lương xâm lược). Người dân làng Trâu Lỗ cho điều kỳ lạ đó là điềm thiêng, còn người dân Kim Thượng lại cho là điềm dữ nên khi biết được trâu đang ở làng Trâu Lỗ, dân Kim Thượng bèn cử người chuẩn bị 100 quan tiền và lễ vật sang chuộc trâu. Đến chuộc lại trâu, người làng Kim Thượng với cử chỉ lịch lãm, nho nhã, người dân làng Trâu Lỗ ứng xử lại một cách đầy thiện chí và khiêm nhường: “Dạ thưa quý anh, người là vàng của là ngãi, chúng em đâu dám nhận tiền chuộc”. 

Từ câu chuyện con trâu trắng, ơn nghĩa hai làng bắt đầu nảy sinh và năm 1594, tại đình làng Trâu Lỗ, hai làng chính thức kết chạ để trở thành huynh đệ tâm giao. Bản kết nghĩa gồm hai tập sách dịch từ chữ Nôm với năm điều cơ bản sau: Nam từ 15 tuổi trở lên mới được gánh góp việc của hai dân; chỉ giao dịch việc công, không giao dịch việc tư; dân hai làng không được kết hôn với nhau; giúp nhau trên tình nghĩa vô tư, không suy bì thiệt hơn, không hoàn lại; người đến cư trú từ ba đời trở lên phải được dân đồng ý mới được gánh góp việc hai làng. 

Lời thề son sắt đó được người dân hai làng Kim Thượng và Trâu Lỗ ghi nhớ, tôn thờ suốt mấy thế kỷ. Lịch sử hai làng Kim Thượng - Trâu Lỗ còn kể lại, vào thời kỳ diễn ra nội chiến Lê - Mạc, trai tráng hai làng Kim - Trâu lại gặp nhau nơi biên ải Cao Bằng với thân phận phu phen cực khổ. Chốn biên thuỳ khổ nhọc, dân hai làng đã đoàn kết, đùm bọc yêu thương, nhường cơm sẻ áo để giữ gìn sự sống cho nhau.

Gặp mặt đầu năm giữa hai làng Hương Câu và Phúc Linh.

Cũng bên sông Cầu, còn nhiều làng quê kết chạ khác. Năm 1703, các cụ cao niên làng Yên Viên xã Vân Hà (Việt Yên) lên kinh đô rước sắc phong do nhà vua ban, khi đến chợ Trục thôn Đống Gạo (nay gọi là thôn Ngũ Xá thuộc huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh) thì gặp lúc trời tối, mưa to gió lớn. Dân làng Đống Gạo khi đó đã mang long đình, kiệu đình làng mình ra đón. Sắc phong của làng Yên Viên được để lên kiệu đưa vào đình làng Đống Gạo tạm cất giữ. Các cụ làng Yên Viên được người làng Đống Gạo đón tiếp và nghỉ lại tới hôm sau mới chia tay. Ghi nhớ, cảm kích trước nghĩa cử đó, năm sau, khi Đống Gạo tu bổ chùa, dân làng Yên Viên đã công đức 4 trụ cột cái.

Từ đó trở đi, dân hai làng coi nhau như anh em. Ngày mồng 4 tháng 8 Âm lịch hằng năm, dân Yên Viên mang lễ vật sang Đống Gạo gặp “dân anh”. Ngày 16 tháng Giêng, dân Đống Gạo lại sang đáp lễ với Yên Viên. Hai bên có giao ước đi lại kết nghĩa, trong đó quy định một số nội dung như khi dân làng Đống Gạo qua sông sang làng Yên Viên hoặc dân làng Yên Viên sang Đống Gạo sẽ không được thu tiền đò; hai làng đi chợ qua lại không được thu tiền thuế bán hàng; hai bên phải coi nhau như ruột thịt… Bản giao ước giữa hai làng được các bậc kỳ lão, trưởng thôn ký vào ngày 10 tháng 2 niên hiệu Chính Hòa thứ 26 (1731). 

Ngày nay, cư dân hai làng vẫn coi nhau như anh em. Hàng năm, khi Tết đến xuân sang, đặc biệt vào ngày hội làng, hai bên lại cùng nhau tổ chức lễ đón rước dân anh đến làm lễ tế tại đền thờ làng mình. Họ cùng nhau ôn chuyện lịch sử kết nghĩa giữa hai làng, nhắc nhở con cháu tôn trọng, giữ gìn những nghĩa tình đã có để tiếp tục tô thắm truyền thống tốt đẹp đó của cha ông. 

Làng Kim Thượng đi đón dân anh Trâu Lỗ.

Tiếp nối những giá trị xưa tốt đẹp

Tháng 8/1971, tỉnh Bắc Ninh hứng chịu trận lũ lịch sử gây thiệt hại lớn về hoa màu, gia súc, nhà cửa... Lúc ấy, Đảng bộ và nhân dân xã Cao Xá (huyện Tân Yên – Bắc Giang) đã mở rộng vòng tay đón tiếp, hỗ trợ, cưu mang nhiều gia đình từ Đình Bảng sơ tán đến địa phương mình. Tương tự, thị trấn Cao Thượng của Tân Yên cũng đón đồng bào Châu Khê về tránh lũ. Thị trấn Nhã Nam thì đón người dân đến từ vùng lũ Tương Giang. Lũ rút, người dân xã Cao Xá, thị trấn Cao Thượng và thị trấn Nhã Nam từ Bắc Giang đã đến hỗ trợ các xã Đình Bảng, Châu Khê, Tương Giang của Bắc Ninh gieo mạ, cấy lúa trồng khoai, dựng lại nhà cửa... 

Lễ đón dân anh của làng Phúc Linh.

Nhớ ân tình ấy, tháng 9/1971, nhân dân Đình Bảng lễ vật sang xin kết nghĩa anh em với Cao Xá, Châu Khê với Cao Thượng, Tương Giang với Nhã Nam. Từ đó đến nay, ân tình anh em luôn được cư dân hai bên giữ gìn. Mọi vui buồn, khó khăn của nơi này luôn được dân anh bên kia hỗ trợ, đùm bọc kịp thời. Không chỉ trong cộng đồng dân cư, ngày nay, chính quyền các địa phương “kết chạ” cũng luôn ý thức về việc đoàn kết, hỗ trợ nhau một cách thiết thực trong mọi việc… 

Tags

Bình luận

Xem nhiều





Nổi bật
Được quan tâm






Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất