Quái kiệt - Nông Thôn Việt

Quái kiệt

Thứ Bảy, 23/01/2021, 10:58 [GMT+7]

Trên đường đời, có lẽ ai cũng gặp, quen biết người đặc biệt, có những ấn tượng rất khó quên. Với tôi, đấy là một người đàn ông mà tên họ bình thường dường như bị lãng quên, thiên hạ chỉ còn nhớ đến biệt danh “Quái Kiệt”. Tôi quen biết “Quái Kiệt” từ hồi chiến tranh nhưng có cảm giác như quen thân từ kiếp trước. Ông là người bạn, người thầy giúp đỡ tôi, thay đổi cuộc đời tôi. Ông hiện là một thầy thuốc Đông y có chứng chỉ hành nghề, có uy tín cao về bấm huyệt và chữa trị các bệnh ngoài da. Cuộc đời ông là chuỗi những sự kiện bất ngờ và biệt danh “Quái Kiệt” đã nói lên tất cả.

 

 

Quái Kiệt quê ở đâu không ai biết. Một đứa trẻ lớn lên trong chùa. Được sư thầy dạy dỗ, biết đọc, biết viết, biết làm tính và biết

chút ít võ nghệ. Ở tuổi 15, Quái Kiệt đi bộ đội và là một trong những lính giao liên đầu tiên trên đường mòn Đông Trường Sơn từ năm 1960. Quái Kiệt từng trực tiếp đánh nhau với quân Mỹ, quân Nam Triều Tiên, từng trải qua các chiến trường ác liệt nhất như B5, B2... Quái Kiệt nhỏ con, trán cao mũi nhọn, miệng nhỏ tai to. Màu sắc của da thường thay đổi, có khi thay đổi trong ngày. Khi khỏe mạnh da dẻ hồng hào. Khi mệt mỏi da hơi ngả màu nâu. Khi bị bệnh da xám sậm.

Quái Kiệt tự cho mình giống như Tôn Ngộ Không có tới 72 cái mạng. Rêu rao cho thiên hạ biết, trung bình mỗi năm ông ta gặp Diêm Vương một lần nhưng không biết Diêm Vương già trẻ, vuông tròn ra sao. Lần đầu tiên bị sốt rét ác tính, lên cơn co quắp một hồi rồi lăn đùng bất tỉnh. Y tá tưởng chết, chuyển qua nhà xác, tính mai chôn cất. Nửa đêm Quái Kiệt lù lù đến lán điểm đòi ăn phần cơm chiều chưa được ăn.

Cũng giống như chuyện “xuống nhà xác vì sốt rét ác tính”, mùa khô 1967 ở chiến trường Quảng Đà, trên đường rút quân, đơn vị Quái Kiệt bị quân Mỹ phục kích. Quái Kiệt chỉ bị sức ép gây choáng nằm lẫn trong các thi thể đồng đội. Lúc tỉnh lại, Quái Kiệt thấy lính Mỹ đang đếm xác đồng đội của mình, liền bôi máu đồng đội lên cổ, lên mặt và nín thở. Lính Mỹ bỏ đi, anh ta vội luồn lách qua các rãnh đất rồi xuyên rừng đến nửa tháng sau mới tìm được đơn vị.

Quái Kiệt ít khi kể về những chuyện chết đi sống lại. Anh ta chỉ kể khi nào người muốn nghe có “thù lao” là hai gói thuốc lá Rubi xanh. Toàn là những chuyện ly kỳ hiếm có trên đời với một câu cửa miệng: “Sống khó lắm, nhưng chết cũng không dễ dàng gì”! Người ta sống trong vòng vây của nhiều thứ nguy hiểm, tựu trung lại là 3 thứ: thiên tai, địch họa, dịch bệnh. Mới hơn 30 tuổi, Quái Kiệt đã trải qua hết 3 thứ nguy hiểm chết người ấy! Không kể những lần thoát chết ở chiến trường, chuyện thoát chết trong thiên tai, bệnh tật cũng không ít. Hai lần bị lũ cuốn. Một lần bị sét đánh cháy tóc. Hai lần bị té ngã từ sườn núi cao rớt xuống vực thẳm. Một lần bị ong đốt, rắn lục cắn bất tỉnh mê man. Một lần bị sốt rét ác tính...

“Suy cho đến cùng là do cái bản mặt mỗi người. Thoát chết vì cái bản mặt ấy. Thần chết không thích. Vậy thôi”! - Quái Kiệt thành khẩn đến mức nghiêm trang trong mọi lời nói, nhưng cái nghiêm trang, nghiêm túc của Quái Kiệt luôn để lại cho thiên hạ một tiếng cười nhẹ nhàng. Con người bí ẩn này nhìn gần nhìn xa, tiếp xúc nhiều hay ít, đều nhận thấy hết sức bình thường, đơn giản. Không có dấu hiệu “siêu nhân” nào trong con người anh ta. Ngay cả chuyện ăn uống cũng vậy. Anh ta thuộc loại ăn tạp, cái gì ăn được đều ăn. Và, cũng như mọi người, anh ta cũng bị tiêu chảy, đau bụng, nổi mụn nhọt, cũng cần đến những thứ thuốc để chữa bệnh.

Quái Kiệt cổ ngắn, có giọng nói chắc khỏe. Âm ngữ pha tạp cả Bắc - Trung - Nam. Kết mỗi câu nói đều có hai từ “vậy thôi”. Tròn vành rõ tiếng.

“Đánh nhau chẳng phải là nghề mưu sinh, cũng không phải là thứ đấu trường giành chức tước! Nghĩa vụ phải đánh nhau, buộc phải đánh nhau. Vậy thôi! Nghĩ ngợi sâu quá làm gì. Nghĩ vừa phải thôi. Nghĩ đến mức tin ở chính mình là đủ. Vậy thôi! Sau này nếu sống sót trở về có cái để mà kể cho người này người kia biết mình đánh đấm không đến nỗi nào. Ai cũng muốn vui với quá khứ. Vậy thôi”!

Quái Kiệt nhủng nhẳng sống chết ở chiến trường. Anh ta bắn cháy một trực thăng, hai xe tăng và diệt hơn chục lính Mỹ. Cấp trên gặp anh ta, bảo viết báo cáo thành tích. Anh ta nhủng nhẳng nói: “Thành tích lớn nhất là vẫn còn sống! Vậy thôi” ! Thiên hạ gọi anh ta là Quái Kiệt từ đấy.

Quái Kiệt lấy vợ lần đầu. Một cuộc hôn nhân tình yêu là trên hết. Cô gái tên Út Ba, thuộc diện nhà nghèo, thường phải nhận trợ cấp của phường, có bố đạp xích lô, mẹ bán rau ở chợ đầu hẻm. Nhà Út Ba có 7 người con. Con trai đầu đi lính cộng hòa bị chết ở Xuân Lộc đầu năm 1975. Con trai thứ hai bị bệnh đao, sống khổ sống sở, ăn uống và đi đứng rất khó khăn. Con gái thứ ba lấy chồng ở Biên Hòa. Người con trai thứ tư đi thanh niên xung phong. Chuyện nghiêm túc nhưng có nhiều chất hài hước. Sau khi sinh đứa thứ tư, bố mẹ Út Ba đồng ý sinh thêm một đứa nữa, đặt tên là Út - ý là con cuối rồi. Thỏa thuận là thế, nhưng 5 năm liền tù tì, út Ba, út Tư và út Năm ra đời. Người mẹ cho con bú, mỗi đứa một vú. Ông chồng rền rẫm với ly rượu: “Tôi đâu muốn vậy. Đẻ nhiều cực lắm. Tại chiến tranh cả. Tối nào cũng buồn, cũng sợ, phải ôm bụng vợ mới ngủ được”. Bà vợ thở dài não nề, mệt mỏi nói trỏng: “Chiến tranh nào ở đây. Bảo đeo capốt kêu không thích. Nói cho ra ngoài kêu không làm được””…! Vợ chồng nhà ấy sống lặng lẽ, hàng xóm ít nghe thấy tiếng nói của họ. Nhưng con cái của họ thì khác hẳn, rất hiếu động, hay cãi cọ nhau. Út Ba sớm dậy thì, đến tuổi 16 đã trưởng thành hoàn chỉnh. Thuộc loại bốc lửa toàn diện, bốc lửa hồn nhiên, cười nói ồn ã suốt ngày, hát không hay nhưng hay hát.

Lúc ấy Quái Kiệt làm chủ tịch phường, được mọi người kính trọng. Công việc ở một phường đông dân lao động khó khăn vất vả trăm bề. Sau giải phóng, vấn đề an dân là quan trọng nhất. Có an dân mới có trật tự trị an. Cốt lõi của việc an dân là đời sống. Quái Kiệt như thấy trước được những khó khăn của việc đi kinh tế mới, kiên quyết đấu tranh không thực hiện theo chỉ tiêu trên giao. Anh ta xem xét hoàn cảnh gia đình từng hộ dân để vận động, có thể chỉ cần cử đại diện đi vùng kinh tế mới để gây dựng cơ sở trước, nếu làm ăn tốt mới đưa hết gia đình theo.

Bước đi thận trọng, thấu tình đạt lý của Quái Kiệt được dân ủng hộ. Nhiều đàn bà, con gái để mắt tới Quái Kiệt. Trong một lần kiểm tra lớp học bổ túc văn hóa ban đêm, Quái Kiệt để mắt tới Út Ba. Trong lớp học dành cho những người lớn tuổi, Út Ba nổi trội rực rỡ như một bông hồng. Nhìn một lần thấy hồi hộp. Nhìn lần hai thấy phấn chấn. Nhìn lần ba không kìm nén được tiếng lòng. Ông chủ tịch phường ở tuổi 40 chưa một lần ôm ấp đàn bà, rưng rưng cảm động, hăm hở tiến lên. Quái Kiệt mời Út Ba đi chơi, mua sách, quần áo tặng Út Ba và nghẹn ngào ngỏ lời cầu hôn: “Anh muốn lấy em làm vợ”. Út Ba nhủng nhẳng: “Hỏi ba má em ấy”. Một tháng sau, đám cưới được tổ chức đơn giản nhưng ồn ào. Gia đình Út Ba mừng vui. Quái Kiệt cũng mừng vui. Có người bày tỏ lo lắng: “Chồng 41 vợ mới 18. Không hợp lý”! Quái Kiệt hớn hở nói ngay: “Không hợp lý nhưng hợp tình. Hợp tình là được rồi. Vậy thôi”!

Không biết có phải vì sức lực suy kiệt do nhiều năm sống đi chết lại ở chiến trường hay vì lo nghĩ nhiều đến công việc nên tính dục của Quái Kiệt chập chờn, lay lắt. Đời sống vợ chồng liên tục gặp trục trặc. Vợ trẻ trung, hồn nhiên nồng nhiệt. Hứng lên là đè chồng xuống! Đa phần không thỏa mãn, cáu gắt: “Chẳng ra làm sao, bực cả mình”. Chồng ôn tồn, nhã nhặn: “Từ từ, việc đâu còn đó, vậy thôi”!

Ba năm sau, cái thứ “chẳng ra làm sao” đã dẫn đến kết quả bi đát. Út Ba ngoại tình, cặp với một chàng trai ở đội văn nghệ. Quái Kiệt biết chuyện, không vui, cũng chẳng buồn. Dường như do nhiều năm cạo đầu sống ở chùa, Quái Kiệt đã tiếp nhận “thiện căn”, nhẹ nhàng buông bỏ. “Tôi cần giải phóng cô ấy. Vậy thôi”! Đám cưới thế nào việc ly hôn thế ấy. Cũng đơn giản và ồn ào.

Áp lực lấy vợ sinh con duy trì nòi giống hầu như không có đối với Quái Kiệt. Ông ta sống đơn giản, thanh thản, có phần lặng lẽ. Lấy sự thân thiết mọi người làm trọng. Lấy công việc làm vui. Ai cũng nghĩ, Quái Kiệt sẽ sống độc thân suốt đời. Đến năm 52 tuổi là phó chủ tịch quận, tiếng sét ái tình lại bất ngờ phát nổ với Quái Kiệt. Lần này là một bà góa, chồng chết khi vượt biên, để lại hai đứa con gái nhỏ và căn nhà mặt tiền khá rộng. Ở tuổi 40 vẫn căng tràn toàn diện, vẫn nóng bỏng toàn phần. Sức hấp dẫn của bà chủ quán “cà phê bình dân” này giống như sức hấp dẫn của công viên. Mọi người đến đây đều tìm thấy niềm vui thích của riêng mình. Quái Kiệt bị bấn loạn tinh thần trong sự đong đưa của tiếng nói và đôi mắt bà chủ quán. “Nghe tiếng thấy hình đã lâu, hôm nay mới thấy mặt. Vinh hạnh này đo đếm sao đây”? Quái Kiệt lại nghẹn giọng, lại bối rối tay chân. Bà chủ quán áp sát, thánh thót từng giọt âm thanh mật ong: “Không có ai ủi áo cho anh sao”?

Sống trên đời ai cũng có nhu cầu về vật chất, về tinh thần, về tình dục. Hoặc nhiều, hoặc ít. Nhu cầu vật chất của Quái Kiệt thuộc loại thấp. Ăn uống không cầu kỳ, có thể nói rất đơn giản. Nhu cầu tình dục rất thấp. Có cũng được, không có cũng chẳng sao. Nhu cầu tinh thần càng đơn giản hơn. Không xem phim, nghe nhạc. Không vui chơi nhậu nhẹt. Rảnh rỗi ngồi một mình ngắm trời, nhìn hoa lá. Vậy thôi!

Sau cuộc gặp đầu tiên với bà chủ quán cà phê bình dân, đột nhiên Quái Kiệt có thêm những nhu cầu mới. Ông ta thích được nhìn ngắm cái cổ cao ba ngấn trắng mịn, tao nhã của bà chủ quán. Ông ta thích được nghe tiếng nói thanh thoát dịu dàng, sâu sắc và tinh tế của người đàn bà cơ nhỡ về tình cảm. Tiếng nói có hàm lượng tri thức, tình cảm rất cao. Quái Kiệt nói to: “Yêu rồi”! Sau đó, cưới liền. Đám cưới thứ hai cũng giống như lần trước, đơn giản và ồn ào. Quái Kiệt có vẻ thích thú với cuộc hôn nhân lần hai này. Nhu cầu ông cần luôn được đáp ứng đầy đủ. Không có sức ép về nghĩa vụ làm chồng. Người vợ thứ hai này lúc nào cũng thiếu tiền bạc nhưng thừa tinh tế chăm sóc chồng. “Anh vui, em vui. Anh buồn, em buồn. Cái anh thích, em thích. Thứ anh không thích, em không thích”! Câu nói điệp khúc ấy êm ái, mượt mà, có thanh âm của chim hót, của mưa rơi, bỗng trầm vừa đủ. Quái Kiệt vui vẻ nói: “Thứ thanh âm ấy có mùi vị, có năng lượng, có dinh dưỡng. Vậy thôi”!

Cuộc hôn nhân kéo dài được 5 năm. Sự đổ vỡ cũng nhanh chóng như kết hợp. Ở năm gần cuối thế kỷ 20, công an bắt quả tang vợ Quái Kiệt tổ chức sòng bạc ngay tại quán cà phê bình dân. Lúc đó, ông phó chủ tịch quận mới nhớ ra vợ mình có máu cờ bạc từ lâu. Ông nhạt nhẽo tuyên bố: “Không yêu nữa thì bỏ. Vậy thôi”! Hai người không có con chung nên việc ly dị cũng đơn giản. Ly dị xong, Quái Kiệt tuyên bố tiếp: “Tôi không xứng đáng làm cán bộ nữa. Không quản lý được vợ thì quản lý được ai. Tôi từ chức. Vậy thôi”!... Năm ấy Quái Kiệt 58 tuổi. Nhiều người lo lắng cuộc sống của ông sau này. Quái Kiệt nói trỏng: “Đi từ đâu, về nơi ấy”!

Không ai biết đích xác Quái Kiệt đi đâu, sống ra sao, nhưng mọi người đều biết ông đã rời bỏ mọi hỷ nộ ái ố chốn nhân gian về nương náu nơi cửa Phật. Nay chùa này, mai chùa khác. Tùy tiện đến. Tùy tiện đi.

Cuối năm 2015, Quái Kiệt bất ngờ trở về nhà cũ với bộ áo thầy chùa, cái đầu trọc lốc và giấy chứng nhận đã qua lớp đào tạo Đông y. Ông ta nói với tôi: “Không phải tôi đi tu. Cạo đầu cho mát, mặc đồ thầy chùa cho đỡ phải thay. Đại giác ngộ rồi, sống tốt với trời đất là sống tốt, đơn giản với mình là sống vui. Vậy thôi”!

TRẦN VĂN TUẤN - Chủ tịch Hội nhà văn TP.HCM

;
.
.
.
.