, //, :: GTM+7
Thứ Hai, 26/12/2016, 10:12

Ngủ biển bên làng cát

CU LÀNG CÁT

Tôi không chắc ở những vùng khác có lệ ngủ biển không, nhưng tôi chắc ở làng biển Quảng Bình nào cũng có cái lệ ngủ biển này mỗi mùa hè oi bức. Ngủ ở bãi cát của làng những mùa xưa ấy ngào lên mùi quê mùa sóng vỗ. Bất cứ ai lớn lên giữa cát bỏng chân trần cũng nếm qua những tháng ngày ngủ biển đầy ám ảnh, mà rồi có đi ra khỏi biên giới làng, chỉ được nhìn lại một bức hình ngủ dài trên cát cũng thơm lừng ký ức bờ bãi bên vách quê.

Ngủ biển
Ngủ biển

 Thằng Sơn nay là giáo viên cấp hai, mùa hè năm xưa nó nhỏ thó, trời nắng chang chang đôi chân của nó vẫn chạy hoài trên cát mà không thấy nóng. Nó chạy trên cát thành chai sạn gan chân, mu chân của nó dày đến mức cát nóng bưng khó làm cho nó sợ. Người làng dùng gỗ làm dép tránh nóng, còn nó cứ để chân như thế chạy khắp làng mà chẳng sợ cát nóng. Mỗi bận có dịp về quê tít mãi làng biển vùng Quảng Trạch, Sơn vẫn cù tôi ra ngủ biển bằng được.

Một chiếc chiếu lác rách hai đầu, nó ôm thêm cái mền cũ nhàu của bất cứ nhà nào cạnh đó rồi trải lên cát làng. Nó bảo ngủ gần hàng dương thì nghe gió vi vu, ngủ gần mép biển thì nghe được tiếng còng gió chạy đuổi nhau bữa đêm rồi tiếng sóng ru êm. Những bữa mùa xưa thơ dại, nghe nó, trải chiếu gần mép biển, đúng là còng gió chạy lao xao cái chân, còng đực, còng cái chui lên từ cát, tán tỉnh nhau, chạy bên nhau, lấy cát tròn viên lại, đùa cùng nhau, xây những cái tổ đẹp nhất, để rồi sóng cuốn đi. Bác Phú của tôi hay nói, số phận buộc chúng như vậy, như ngư dân mình vậy thôi, chúng phải xe cát mới duy trì được cuộc sống, không là dã tràng, không xe cát thì chúng làm gì tán tỉnh được nhau, làm gì duy trì được hậu thế của chúng. Người làng biển cũng vậy, không đi biển thì không thể lao động, biển là nguồn lực làm ăn bền chặt từ ngày dựng làng... Bác Phú cứ ngồi kể như để mai này khỏi thất lạc nguồn gốc, vì tôi vốn dòng giống ở đây, nhưng lại được mạ sanh nở chốn khác, chỉ mỗi năm đến hè mới về quê cho biết tổ tông. Thằng Sơn trải chiếu xong lặn đi đâu mất dạng. Chút sau về, nó kể, anh Thường chị Bình yêu nhau, hẹn ra bãi cát làng bao nhiêu đêm nay mà chỉ ngồi hai người hai bên, cách nhau một khoảng, con nít cả làng đi xem, mọi đêm họ vẫn cười nói, mà đêm nay chị Bình khóc hết nước mắt. Nghe vậy rồi thằng trẻ nhóc như tôi thiếp ngủ bên hơi thuốc rê của bác Phú cùng tiếng sóng vỗ như âm nhạc không lời thẳm sâu.

Mùa ngủ biển năm sau, được cho về lại làng, thằng Sơn lại trải chiếc chiếu, bác Phú lại kể cho tôi cốt tích những bậc khai canh làng biển nhỏ bé 350 năm này. Bác kể, trong các câu chuyện nhiều như cát của người xứ này, có những chuyện tình vợ đợi chồng mãi không về sau bao mùa biển bão tố. Trong nghĩa địa làng biển ấy, nhiều lắm những ngôi mộ gió không có cốt, chỉ vun cát lại thành ngôi mà thờ vọng, vì biển đã vùi vào đáy bao trai tráng mưu sinh gặp lúc gió chướng đột ngột.

Thằng Sơn đi một vòng về rồi kể, anh Thường mất trên biển đoạn gió đông, năm trước chị Bình khóc là sắp tiễn anh lên đường làm lính hải quân, ra tết chừng vài tháng thì nhận giấy báo mất trong lúc làm nhiệm vụ. Chị buồn như con dã tràng cô đơn. Bác Phú nói thêm, con Bình là đứa mà ai cưới được thì thật phúc đức, nó có nết lắm, thằng Thường là ngư phủ thứ thiệt, rứa mà ông trời không thương mối duyên hai đứa này...

Ngủ biển bên cát làng là lệ tục giản dị từ mấy trăm năm nay, mùa gió nam nóng bức, nhà của ngư dân úp lên cát, tối xuống không gian oi đặc khó chịu, già trẻ, gái trai cứ thế rời nhà, để lại những lặng im phía làng, ra mép biển, dưới ánh trăng, từng tốp, từng nhóm, từng khóm, từng ngõ tụ lại bàn chuyện nghề ngày mai. Đờn bà kể chuyện con cá hôm nay đổi được bao nhiêu gạo, đờn ông tính làm sao cái thuyền nan đưa được về thật nhiều cá để xóm làng có cái mà ăn. Những lão ngư già nhất, uy tín nhất còn tính toán ngày mai, ngày kia làm sao có nhiều hơn để chia cho những người mù bẩm sinh, những người lính thương binh, những người khó khăn neo đơn, những người bệnh tật… Làng sống trên cát, mưu sinh với biển, người lành phải có nghĩa vụ với người rách phận, thế thì những hạt cát mới dính kết, mới vun thành xóm, xóm mới vun thành làng, làng mới vun thành rú cát bền dai.

Những tháng ngày làng biển chưa có điện, cuộc sống thật khó khăn, mái nhà xiêu vẹo, miếng ăn có từ con cá mặn mòi đổi gạo. Làng biển chỉ rặt mỗi cát, xương rồng là cây sống được, lúa phải từ vùng ruộng thu hoạch mới đổi về. Bữa ấy con cá rẻ mạt người làng biển đổi gạo cũng chỉ dám ăn ngày hai bữa. Bữa sáng và bữa chiều, bữa trưa nhịn lại mà ra biển đánh bắt. Những đêm ngủ biển ở quê, bác Phú cứ ước ao làm sao sau này con cháu có ngày ba bữa cơm mà ăn, làm lụng trên cát mãi mà nghèo vẫn nghèo.

Nay làng biển đã khá hơn, bữa cơm không túng bấn mà đã làm giàu từ biển, nhưng cái lệ ngủ biển vẫn không hề mờ xa. Về làng, bác Phú, thằng Sơn, mấy đứa con nít của làng, con trai, con gái vẫn hò nhau đi ngủ biển. Trời nắng, làng ngột ngạt bởi bê tông xây dày đặc, cát như nén đặc lại chất nóng cả ngày, ban đêm tỏa ra bừng bừng, ai cũng muốn ra biển hưởng cái mát rượi, chỉ cần trong xóm một tiếng ới: “Ra bể ngáy bà con ò” (Ra biển ngủ bà con nhé) là chút sau trên bờ cát đã từng nhóm tụ lại.

Bao năm trước mỗi lần ngủ biển, thằng Sơn, thằng Lam thường đi câu cá nóc về làm món cháo hoặc món nóc hấp. Tôi vẫn không thể nào hiểu được vì sao ở rảnh đất này món cá nóc trở thành đặc sản, mấy kỳ trước nó được mua đắt hơn cá loại ngon, cứ ai ra câu về ký nào bán hết ký đó. Không biết do mạch nước hay do bàn tay mà cá nóc làm ở đây ăn vào chả thấy độc dược gì. Thằng Lam mỗi mùa câu cá nóc, nó còn làm khô nóc gửi tặng ăn dần mùa đông, nó làm cũng vở mật ra, vậy mà khi ăn vào, cái miếng cá cứ ngon cuốn hút. Hắn kể, làng mình làm cá nóc ăn không sao, mà làng bên kia quốc lộ, không có biển, nhưng thấy thèm, mấy anh em đi câu cá nóc làng mình về làm ăn, chẳng biết thế nào ăn xong là chết mấy năm trước. Chắc do con nước trong làng đó rửa không sạch độc nóc (?).

Mùa năm nay, ngủ biển lại về làng, bọn con nít ùa theo, biển làng bãi ngang, sóng vẫn thì thầm ru vào cát quê, những con thuyền nan mệt mõi oằn xuống rảnh cát vì cũng mấy tháng rồi phải gác mái. Mấy đứa trẻ làng biển thường ùa xuống tắm rồi lên ngủ, nhưng năm nay chúng ái ngại. Bác Phú nói, con cá nóc độc thế vẫn không sợ, rứa mà không biết độc dược đâu làm cá biển chết để bây chừ làng mình lo lắng quá.

Bữa sáng dậy, người ngủ biển la liệt như cá mòi, manh chiếu chắn cát bay tứ tung, những thân người xoài ra trên cát, lấm cát cả mặt nhưng đứa nào cũng ngủ rất ngon. Mặt trời ló dạng, thường ngày còn nán lại đợi mấy ghe nặng bụng trở về, nay thuyền nằm bờ, mỗi hình người quay lưng đi về phía làng một cách lặng lẽ... Ngủ biển mùa này như dã tràng xa nhau.

Widget 'Chân trang - Nông thôn mới'

Bình luận

Xem nhiều

Hiện nay ở nước ta, hơn 84% các hộ dân ở thành thị được dùng nước máy. Thế nhưng, số hộ dân được dùng nước máy ở nông thôn chỉ là gần 35%. Một sự chênh lệch quả thực quá lớn.


Cái thú lớn nhất khi ăn vặt ở hẻm chợ Chiều đường Nguyễn Tiểu La (Q.10, TP.HCM) chính là ngồi một chỗ rồi tập hợp các món về mà ăn đến no nê.

Trong tiết trời se se lạnh, lại là ngày cuối tuần, tự dưng tôi thèm món mùng nước muối chua quá. Cứ nghĩ đến bát mùng muối vàng ươm, bên cạnh là bát ruốc có mấy lát ớt cay đỏ mọng và bát cơm gao mới trắng thơm đang bốc khói là biết bao kỉ niệm của một thời lại ùa về. Nhớ lắm, những ngày xa!

Nổi bật

Thị trường khu vực Đông Nam Á nói riêng và thế giới nói chung đang là cơ hội rất lớn để hạt gạo Việt Nam chiếm lĩnh thị phần. Thế nhưng, hiện nay hạt gạo Việt vẫn rất nhọc nhằn để tìm vị thế.
Được quan tâm

Ngày 14/04/2022, hình vẽ tượng trưng của Hang Sơn Đoòng - hang động tự nhiên lớn nhất thế giới tại Quảng Bình đã được vinh danh trên Google tìm kiếm tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Đây là một trong số ít lần trong lịch sử Google Doodle mà một địa danh cụ thể ở Việt Nam được chọn để hiển thị.
6





Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất