Hương vị độc đáo rừng U Minh Thượng - Nông Thôn Việt

Hương vị độc đáo rừng U Minh Thượng

Thứ Bảy, 30/04/2016, 13:56 [GMT+7]

Sông Trẹm chia U Minh ra thành hai vùng thượng và hạ. U Minh Hạ thuộc tỉnh Cà Mau, U Minh Thượng thuộc tỉnh Kiên Giang. Rừng U Minh Thượng nằm trong địa giới của các huyện An Biên, An Minh, Vĩnh Thuận của tỉnh Kiên Giang, thuộc vùng bán đảo Cà Mau.

 

Do đặc điểm môi trường sinh thái, thổ nhưỡng độc đáo, rừng U Minh Thượng có rất nhiều thực vật thủy sinh và các loài thú, chim, tôm, cá rất dồi dào, phong phú. Đến với Vườn quốc gia U Minh Thượng, sau khi xâm nhập, khám phá phong cảnh hoang sơ, khách sẽ được vui thú ẩm thực với những món ngon, lạ, độc đáo.

 Cá lóc nướng đất sét.

Thật thú vị, bạn sẽ có cảm giác như sống lại thời khẩn hoang khi ngồi dưới tán rừng tràm ở hồ Hoa Mai (trung tâm vườn) thưởng thức món cá lóc, rắn bông súng nướng lèo, chấm với muối hột đâm nát, dầm ớt hiểm xanh. Rau rừng ở đây rất phong phú, ta có thể tìm hái đọt choại, bồn bồn, bông súng ma, rau mác, bông lục bình, đọt cóc kèn, rau nụ áo… hầu như có khắp nơi. Cái độc đáo làm bạn thích thú là các món đặc sản được chế biến tại chỗ theo cách dân gian ngày xưa, thời mới khai khẩn đất phương Nam.

Với món cá lóc nướng đất sét, nhiều người cho rằng còn ngon hơn so với cá lóc nướng trui một bậc. Cá chừng 0,5-1 kg trở lại, để nguyên con trong rổ cho ráo nước. Gạt bùn dưới mương vườn hay dưới ruộng lấy đất sét dẻo nắn một lớp dày chừng 1 cm bao phủ kín mình cá. Để cá lên vỉ, ủ rơm đốt đến khi thấy đất sét khô nứt, rạn ra thì gỡ bỏ lớp đất. Vẩy cá dính vào đất sét phô phần thịt cá trắng phau, thơm phức. Bạn có thể bẻ cá ra chấm muối ớt ăn liền tại chỗ, ngon không thể tả!

Với món rắn trun nướng lèo (mọi), đừng ngại thưởng thức vì đây là loại rắn lành, có nhiều ở ao, ruộng, đầm, lung ngập nước lưu niên. Rắn trun dài khoảng 40-60 cm, con nhỏ mình tròn bằng ngón tay út, con lớn có thể to cỡ ngón chân cái người lớn, lưng đen bóng, đầu nhỏ dẹt. Rắn trun để nguyên con, khoanh tròn rồi kẹp gắp tre nướng, hoặc nướng vỉ trên lửa than hồng. Trở rắn cho đều, độ chừng non 10 phút, thấy da rắn phù lên rồi nứt bung, rạn ra một đường, ấy là rắn đã chín tới. Mở kẹp hay vỉ ra, để rắn trên lá chuối xanh cho thịt rắn hút hơi nước dịu lại. Cầm rắn bẻ thành khúc, chấm muối ớt ăn kèm với rau răm, diếp cá rất hấp dẫn.

Ở U Minh Thượng, ốc bươu, ốc lác sinh sống rất nhiều, có khắp nơi trên các cánh đồng, rừng ngập nước. Ốc bươu luộc sả, rất đơn giản mà ngon. Dân sành ẩm thực cho rằng các món ăn nếu chế biến cầu kỳ quá sẽ làm mất đi hương vị riêng, đặc trưng.

Đến Vườn quốc gia U Minh Thượng, vé vào cửa 10.000 đồng/người, sau đó bạn mua một vé câu 80.000 đồng, mướn một chiếc xuồng câu nhỏ 50.000 đồng, thuê vỏ lãi kéo xuồng vào sâu trong rừng, một chuyến 200.000 đồng (nhiều xuồng hùn lại). Vỏ lãi sẽ bỏ bạn lại chỗ nào đó, bạn sẽ thoải mái câu, kiếm mồi trong rừng. Đến giờ hẹn, vỏ lãi sẽ ghé rước bạn về.

Người ở TPHCM, Cần Thơ, An Giang hay đi xe nhà xuống U Minh Thượng câu cá từ hôm thứ Bảy sang ngày hôm sau – chiều Chủ nhật thì quay về, đôi khi với giỏ cá đầy.

Ốc Bươu bắt được, ngâm nước vo gạo chừng tiếng đồng hồ cho nó nhả nhớt; muốn nhanh hơn người ta có thể ngâm nó với nước ấm pha chút dấm chua. Bắc nồi nước lên, nấu vừa sôi, bớt lửa rồi cho ốc đã rửa sạch vô nồi (nước xăm xắp, vừa ngập mình ốc), sắp lá sả, lá ổi lên, đậy nắp chặt và xóc nhẹ vài cái cho đều. Khoảng mười phút sau giở ra thăm, nếu thấy ốc đã hé mày là ăn được. Bạn bắc nồi ốc xuống, vớt ra thau. Mùi thơm của lá sả, lá ổi, lá bưởi xông lên ngào ngạt, sẽ cho bạn cảm giác thèm ăn. Cơm mẻ độ nửa chén, dầm ớt hiểm, nêm muối, đường, bột ngọt… tán nhuyễn dùng để làm chất chấm.

Ngoài các món tiêu biểu, dễ làm, rất chân quê kể trên, ta còn có thể khám phá thêm những món ẩm thực dân dã nhưng độc đáo như bồn bồn xào tép, đọt choại luộc chấm mắm, tôm lóng nấu bông so đũa, lẩu rắn, cá rô kho trái giác, cá thác lác chiên giòn…

Về miền rừng ngập nước U Minh Thượng, xâm nhập thực tế, khám phá sinh cảnh hoang dã, vui thú ẩm thực ngon, lạ, độc đáo là chuyến đi thú vị, nhiều ấn tượng…

SaiGonTiep thi

;
.
.
.
.