, //, :: GTM+7

Vùng đệm U Minh Thượng: Tương lai thiếu nước là không tránh khỏi

LÊ MY
Vườn quốc gia U Minh Thượng (UMT) bao gồm vùng lõi có diện tích 8.000 hecta, được ôm trọn bởi vùng đệm rộng 13.000 hecta.
Bên cạnh hơn 20 đoạn kênh chính là vô số mương của người dân nhằm dẫn nước tưới tiêu. Ảnh:Hoài Chung.

Trong khi vùng lõi được bảo vệ nghiêm ngặt với hệ thống kênh và đê bao khép kín thì vùng đệm lại khá “thông thoáng” khi người dân có thể sinh sống, canh tác và chăn nuôi tại đây.

Đất lành chim đậu

Thập niên 90 của thế kỷ trước, tỉnh Kiên Giang cấp đất cho hơn 3.400 hộ dân vào vùng đệm để phát triển sản xuất. Đến nay, số hộ dân đã lên đến 7.500 - theo Niên giám thống kê huyện UMT năm 2020.

Vốn là dân Vĩnh Thuận - một huyện giáp huyện UMT, ông Lý Văn Tình thuộc lớp người đầu tiên đến vùng đệm này lập nghiệp. Ở tuổi 69, ông đang có một vườn xoài sai quả và con cháu, họ hàng sống gần bên, dọc Kênh 21 thuộc xã An Minh Bắc. Suốt buổi trao đổi, “ngon lành” là từ ông Tình lặp đi lặp lại mỗi khi nhận xét về vùng đệm. “Vùng đất này, nói nào ngay, rất ngon lành. Nước nôi, đất đai của ai nấy có, đàng hoàng…”, ông khẳng định. Người dân sinh sống ở vùng đệm dùng nước ngầm nấu nướng, ăn uống, sinh hoạt bên cạnh thói quen trữ nước mưa. Nước trong kênh thì phục vụ tưới tiêu, quanh năm không sợ thiếu.

Năm nay, chị Thị Thương đặt cược vào bồn bồn, một loại rau đặc sản của miền Tây, có đặc tính ưa nước. Ảnh:Hoài Chung.

Còn với gia đình chị Thương, cuộc sống sát bên vùng lõi có phần thử thách hơn. Theo chồng về đây từ năm 2000, nhưng mãi đến hôm 25 Tết vừa qua (27/1/2022), chị mới chính thức có… điện để bơm nước ngầm lên tắm rửa, “mừng trời ơi ta nói”!

Ấy vậy mà trong 40 phút trò chuyện, chị chẳng một lần thở than thiếu nước. Điều ngược lại - nước quá dư dả - mới làm chị khổ tâm: “Gừng, môn, dưa leo, … nước ngập một cái là hết trơn; nuôi cá gặp lũ cũng đi hết trơn”. Thế nhưng, chị Thương chưa từng nghĩ đến chuyện rời khỏi UMT.

Thoạt nghe, UMT dường như vẫn đang dồi dào về nước. Nhưng với nhiều nhà khoa học, một mảnh đất càng bình yên sẽ càng dễ tổn thương.

Chuyện 20 năm trước

Mặc dù nằm cách biển không đến 50km, bị bao quanh bởi nước mặn, UMT lại là đất ngập nước nước ngọt. Không có nhánh sông Mekong nào chảy qua đây, tất cả nguồn nước ngọt dồi dào của UMT chính là nhờ nước mưa.

 
Vị trí vùng lõi và vùng đệm U Minh Thượng. Minh họa:Lê My.
 

Trong quá khứ, vùng U Minh nói chung (trước khi tách thành U Minh Thượng và U Minh Hạ ngày nay) là một vùng trũng, lại nằm trong khu vực có lượng mưa cao nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL). Mưa nhiều cộng với thoát nước kém đã dẫn đến tình trạng ngập úng kéo dài. Thực vật phát triển rậm rạp, rồi già chết, rơi xuống, theo thời gian tích tụ thành lớp than bùn. Đầm than bùn U Minh hoạt động như một miếng bọt biển khổng lồ: hút đầy nước trong mùa mưa (tháng 5 - 11) và từ từ nhả nước trong mùa khô (tháng 12 - 4). Nhờ vậy, hệ động thực vật rừng và dân cư vùng phụ cận có nguồn nước ngọt quanh năm.

Thế nhưng, trận cháy rừng lịch sử vào tháng 3 và 4/2002 đã thiêu rụi khoảng 90% diện tích than bùn của UMT. Hiện nay, lớp than bùn ở UMT ước tính chỉ còn gần 3.000 hecta - chưa đến ¼ diện tích than bùn ghi nhận vào năm 1976 (Trần Triết, 2016). “Thật không may, diện tích lớp than bùn (nằm trong vùng lõi) còn lại quá nhỏ nên ngay cả khi hấp thu hết khả năng, nó cũng không giữ đủ nước cho cộng đồng xung quanh xài”, Tiến sĩ Dương Văn Ni ở Đại học Cần Thơ, Chủ nhiệm dự án “Vai trò của đất ngập nước đối với an ninh nguồn nước của vùng Mekong” (gọi tắt là Dự án) cảnh báo.

Cũng theo Tiến sĩ Dương Văn Ni, biến đổi khí hậu làm cho nhiệt độ trên trái đất tăng dần, thời gian khô hạn sẽ kéo dài hơn khiến lớp than bùn tự phân hủy và ngày một mỏng dần. Điều đó đồng nghĩa với khả năng giữ nước ngày càng ít đi.

“An ninh” từ trong suy nghĩ

Theo báo cáo Mekong WET năm 2019 của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN), những mối đe dọa lớn nhất về mặt khí hậu với UMT là: hạn hán nghiêm trọng và kéo dài, nhiệt độ không khí tăng cao, lũ lụt và xâm nhập mặn do nước biển dâng. Ngoài ra, các hiện tượng cực đoan như sóng nhiệt, bão mạnh và mưa lớn sẽ xảy ra thường xuyên hơn, và hầu như không thể đoán trước được. Tương lai khô và nóng sẽ làm tăng nguy cơ cháy rừng, đe dọa phần diện tích than bùn cuối cùng của UMT.

Nhóm nghiên cứu trường ĐH Khoa học Tự nhiên (ĐH Quốc gia TP.HCM) phỏng vấn nông dân Kênh 21, ngày 15-02-2022. Ảnh: Hoài Chung.

“Chúng tôi không kỳ vọng sẽ làm một công trình gì đó ngay lập tức mà trước tiên, dự án phải tìm cách thay đổi suy nghĩ của người dân, làm sao để họ thấy được họ đang sống trong một môi trường mà rủi ro có thể xảy ra bất cứ lúc nào”, ông Ni cho biết. Theo ông, khi người dân thay đổi suy nghĩ và hiểu rõ các nguy cơ, họ sẽ biết cách hành động. Nhóm nghiên cứu của tiến sĩ Ni tin rằng cách “hành động” của cư dân thuộc về tri thức bản địa nên sẽ tự nhiên phù hợp với môi trường sống, chẳng hạn như chuẩn bị lu khạp, đào ao hồ để trữ nước, hứng nước mưa. Song song đó, chính quyền địa phương cũng phải hiểu được họ cần ưu tiên đầu tư cái gì để đảm bảo an ninh nguồn nước cho địa phương.

“Bây giờ không nghĩ đến chuyện ngăn mặn nữa, mà phải nghĩ đến chuyện trữ ngọt”, ông Ni nói. “Kinh nghiệm của những địa phương khác đã có hết rồi, họ không cần phải tìm kiếm giải pháp nào xa xôi mà chỉ cần học hỏi xung quanh, từ những người dân ở Bến Tre chẳng hạn!”

Đến tháng 7/2022, Dự án xử lý dữ liệu về mức độ nhận thức và nhu cầu về nước của người dân vùng đệm UMT. Trong thời gian tới, nhóm nghiên cứu sẽ thiết kế một trò chơi tương tác, nhằm thúc đẩy người dân đối thoại về một tương lai thiếu nước vốn không thể tránh khỏi.

Nhận tài trợ của Mạng lưới Nghiên cứu Mekong Bền vững (SUMERNET), dự án “Vai trò của đất ngập nước đối với an ninh nguồn nước của vùng Mekong” được triển khai ở 4 quốc gia gồm Việt Nam, Campuchia, Lào và Thái Lan. Dự án bao gồm các hoạt động nghiên cứu và thiết kế công cụ nhằm thay đổi nhận thức của người dân và chính quyền về an ninh nguồn nước tại địa phương. 

Tags

Bình luận

Xem nhiều





Nổi bật
Được quan tâm





Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất