Dự án lạ lùng: Bảo tồn đồng cỏ bàng và đàn sếu đỏ - Nông Thôn Việt

Dự án lạ lùng: Bảo tồn đồng cỏ bàng và đàn sếu đỏ

Thứ Ba, 08/05/2018, 10:35 [GMT+7]

Ngày 19 tháng 10 năm 2004: Dự án khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương đã ra đời tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (nay là huyện Giang Thành), tỉnh Kiên Giang. Phạm vi dự án là ba ấp: Trà Phọt, Kinh Mới và Trần Thệ.

Nhờ bảo tồn và phát triển được diện tích cỏ bàng nên Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ  đã lôi kéo được số lượng sếu đầu đỏ về mỗi năm một tăng. Ảnh: Trương Thanh Nhã.
Nhờ bảo tồn và phát triển được diện tích cỏ bàng nên Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ đã lôi kéo được số lượng sếu đầu đỏ về mỗi năm một tăng. Ảnh: Trương Thanh Nhã.

Còn đâu “Tiếng ai giã bàng”?

Xưa kia, cỏ bàng (Lepironia articulata) mọc bạt ngàn ở đồng bằng sông Cửu Long. Ở những cánh đồng đất càng nhiễm phèn nặng, lúa cấy xuống là chết cháy thì cỏ bàng lại càng ngạo nghễ vươn lên, tốt tươi. Cũng tự bao đời, người Khmer nơi đây đã biết nhổ cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan cà ròn, đệm, chiếu, giỏ, nón… phục vụ cuộc sống hàng ngày. Cỏ bàng cho thu hoạch quanh năm, nhưng rộ nhất là vào mùa nước nổi, từ tháng 8 đến tháng 11. Người dân ra đồng nhổ cỏ bàng mang về phơi khô, giã dập rồi tích trữ để đan quanh năm. Hình ảnh nên thơ đó đã được nhạc sĩ Ngô Huỳnh khắc họa trong bài hát Con kênh xanh xanh sáng tác năm1949 với những câu luyến nhớ: Chiến khu bừng vui ấm bao lòng dân quê tôi/ Tiếng ai giã bàng nhịp nhàng như tiếng lòng tôi.

Cùng với củ năn là thức ăn yêu thích, sếu đầu đỏ (Grus antigone sharpie), loài chim đẹp, quý hiếm, có tên trong sách đỏ thế giới và Việt Nam, thường chọn những cánh đồng cỏ bàng làm nơi trú ngụ. Ngày ngày, người đi nhổ cỏ, sếu thảnh thơi kiếm ăn, đấu hót, nhảy múa hay giang cánh đua với ánh mặt trời… làm nên bức họa đồng quê bình yên, tuyệt đẹp.

Nhưng rồi người dân khai thác tự do, tận diệt cỏ bàng khiến cây mai dương xâm lấn, có nguy cơ diệt dần cỏ bàng. Lại nữa, cơn lốc khu công nghiệp, vuông tôm quét qua, dân tình cũng mặc sức khai thác lộc trời đất nên diện tích cỏ bàng dần thu hẹp. Sinh cảnh biến đổi, sếu sợ hãi bay đi, sinh kế của người dân cũng bị ảnh hưởng.

Một câu chuyện tình

Mê sếu, loài chim lớn nhất trong các loài biết bay, lại có dáng tiên phong đạo cốt, nên khi thấy diện tích đồng cỏ bàng, sinh cảnh của chúng, ngày càng bị thu hẹp, Tiến sĩ Trần Triết, Trưởng khoa Thực vật – môi sinh, Đại học Khoa học tự nhiên thành phố Hồ Chí Minh, đã viết dự án gửi dự thi và được Ngân hàng Thế giới trao giải.

Từ tiếng vang đó, Hội Sếu quốc tế (ICF) nhanh chóng vào cuộc, tài trợ 500.000 USD, cộng với vốn đối ứng của UBND tỉnh Kiên Giang là 300 triệu đồng để triển khai dự án nghe có vẻ lạ lùng là: Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương tại xã Phú Mỹ, huyện Kiên Lương (nay là huyện Giang Thành), tỉnh Kiên Giang. Đã có 447 hộ dân với hơn 1.400 người tham gia, diện tích dự án là 342 ha.

6giờ 45, tiếng xe máy, tiếng nói cười đã rộn rã ngoài sân trụ sở ban quản lý dự án. Công nhân từ các ấp đổ về để bảy giờ bắt đầu một ngày làm việc răm rắp như ở khu công nghiệp. Người đan đệm; người nhịp nhàng chân nhấn công tắc mô tơ, tay lượn những tấm cỏ bàng cho đều mũi kim đường chỉ; người chuốt, tạo hình thành chiếc giỏ, kẹp hồ sơ, cặp sách, túi đựng nữ trang…

Tiếng rì rầm trò chuyện, tiếng cười đùa thi thoảng lại rộ lên suốt cho đến mười bảy giờ. Ít ai biết, những ngày đầu xuống đây, bà con sống khép kín, ngại giao tiếp, nhiều người không nói được tiếng Việt nên cán bộ dự án phải mất hai, ba tháng làm quen, họ mới cởi mở trò chuyện. “Tiếp thu chậm nên mỗi mẫu sản phẩm phải hướng dẫn mất chừng mười lăm ngày bà con mới quen. Nhưng làm sang mẫu mới, quay lại làm mẫu trước thì lại phải cầm tay chỉ việc từ đầu”, Hà Trí Cao – cựu điều phối viên dự án - nhớ lại.

Chị Thị Phum, 38 tuổi, ở ấp Trà Phọt, mỗi ngày đi nhổ được mười bó cỏ bàng về phơi khô, đập dập rồi đan được một tấm đệm kích thước 175cm x 65cm, bán được 1,5triệu đồng. Chị cho biết: Cỏ bàng cao từ 1,1 mét trở lên mới được nhổ. Cúi thấp lưng, vơ lấy vài ba cây cỏ, nắm phần gần gốc, nhẹ tay giật, người ngả về phía sau là cỏ bật rễ, cứ nhịp nhàng như thế, nếu cỏ tốt, mỗi người cũng nhổ được hơn chục bó một ngày.

Gánh cỏ về phơi khô, đập dập, đan thành đệm rồi đến công đoạn nhuộm. Điều phối viên của dự án phải lên tận thành phố Hồ Chí Minh mua bột màu, về trộn các loại với nhau để có màu ưng ý rồi hòa nước sôi để ra màu dạng lỏng. Lúc này mới trao công thức cho thợ nhuộm.

Sống lại làng nghề

Anh Nguyễn Văn Hổ, nhà ở ấp Kinh Mới, đối diện trụ sở ban quản lý dự án. Hai vợ chồng anh có mười công ruộng. Trước quanh năm làm ruộng nhưng nhìn thấy mấy người đối diện nhà mình ra vào, đan lát, chuyện trò ríu rít suốt ngày, nên anh chống xuồng sang xem.

Cỏ bàng được đưa về làm hàng thủ công mỹ nghệ. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng.
Cỏ bàng được đưa về làm hàng thủ công mỹ nghệ. Ảnh: Đỗ Quang Tuấn Hoàng.

Lân la đến góc sân, nơi có ông già đang tay quét màu lên phên cỏ, mắt canh chừng mấy bếp củi rừng rực đun mấy cái nồi to, cao như người ta nấu bánh tét, anh đứng xem, thích, hỏi, được người tên là Năm Xuân ấy chỉ vẽ tận tình. Mấy bữa sau thầy về tỉnh Tiền Giang, anh Hổ đu theo để học nghề.

Vừa học vừa làm một năm thì thành thạo, anh từ biệt thầy về quê gia nhập dự án, làm thợ nhuộm từ năm 2007 đến giờ. Anh giảng giải: “Lấy chổi chấm nước màu quét một hoặc hai lớp lên phên cỏ bàng rồi xếp vào nồi nhôm, bắc lên bếp. Đốt củi đun từ ba giờ đến ba giờ ba mươi phút để màu ngấm vào bàng. Tắt lửa, để nguội thì đem ra phơi nắng, màu ăn chặt, giặt không phai.”

Từ những tấm đệm cỏ bàng đa sắc đó, những người phụ nữ Khmer lại làm thành hơn 500 mẫu sản phẩm đẹp, chất lượng giới thiệu cho khách hàng, trong đó có nhiều mẫu mã làm theo yêu cầu của các công ty xuất khẩu tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội.

Trước đây đa số người dân làm hoàn toàn bằng tay để đan những sản phẩm đơn giản như nón, đệm, giỏ xách… Từ ngày có dự án, cán bộ dự án đưa mẫu mã sản phẩm đa dạng và máy may về, thầy Nguyễn Văn Dạn dạy hai tháng thì các chị biết may sản phẩm.

Chị Thị Phum cho biết: “Cũng là nón nhưng không phải loại nón giống như trước mà nó đẹp hơn. Giỏ xách cũng là kiểu mới để bán ở các khu du lịch, đẹp lắm!” Dự án cũng chú trọng ngay từ gốc, đầu tư cho người dân phân bón, hướng dẫn cách chăm sóc thu hoạch đúng cách (nhổ cả cây chứ không cắt), để cỏ bàng không bị kiệt quệ.

Trương Anh Thơ, điều phối viên dự án, là một cô gái đa tài và nhiều mơ mộng. Chị rất quan tâm đến các dự án truyền thông nhằm bảo tồn và phát triển sinh kế bền vững, hiệu quả cho người dân. Cuối 2014, chị được mời về làm quản lý truyền thông của dự án.

Làm truyền thông tốt, dần dà chị được tin tưởng giao trách nhiệm làm điều phối viên của dự án. Chị tâm sự: “Càng làm, tôi càng quý con người nơi đây và mong muốn cùng họ xây dựng một làng nghề phát triển cũng như biến dự án trở thành một “Best practise” (thực tiễn tốt nhất) cho khu vực.”

Chị Trương Anh Thơ cho biết: Sản phẩm thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng có thể phân ra thành bốn loại: túi thời trang, đồ gia dụng và trang trí nội thất, vật liệu xây dựng, và bao bì thương hiệu. Các mặt hàng đa dạng về mẫu mã, kiểu dáng phù hợp với từng thị trường và thị hiếu người tiêu dùng.

Dự án cung cấp sỉ, lẻ và thiết kế riêng đơn đặt hàng cho các cửa hiệu và xuất khẩu. Sản phẩm đan đát từ cỏ bàng như các loại giỏ, khay, thùng, chiếu, đệm, nón, có mặt ở thị trường nhiều nước và vùng lãnh thổ trên thế giới là Mỹ, Canada, châu Âu, Trung Đông, Hàn Quốc, Nhật Bản…

Tôi cầm trên tay chiếc túi xách pastel cỡ lớn (50 cm x 25 cm x 14 cm), hai mặt giỏ sơn màu pastel, gắn chùm pompom nhỏ, mặt ngoài trang trí họa tiết hình sếu đầu đỏ, mặt trong bọc vải, miệng giỏ có túi rút, giá bán 320.000 đồng/chiếc mà tấm tắc. Biết bao nhiêu mồ hôi và công sức, tiền bạc của những cán bộ dự án đã đổ xuống đất phèn nghèo khó này để đưa những sản phẩm hàng ngày từ cỏ bàng lên thành sản phẩm mỹ nghệ!

Doanh thu từ việc bán các sản phẩm cỏ bàng ước đạt hơn hai tỉ đồng mỗi năm. Nhưng theo chị Thơ, quan trọng nhất, dự án đánh giá mức độ thành công thông qua việc phát triển làng nghề. Không chỉ giải quyết sinh kế cho người dân Khmer nghèo ở địa phương, dự án còn bảo vệ được 1.200 ha đồng cỏ, rừng tràm tự nhiên, phục hồi 60ha và trồng mới 20ha cỏ bàng.

Cảnh cũ lại về

Trời ngả về chiều, chúng tôi khoác ba lô, ống nhòm, máy ảnh, sổ, sách lội bộ xuống ấp Trà Phọt. Trên nền trời vàng cam xuất hiện một đàn chim từ phía Campuchia theo hình mũi tên bay tới. Chưa rõ hình hài đã nghe thấy những tiếng kêu trầm đục.

Tôi ngửa cổ ngắm dáng bay thanh thoát của đàn sếu. Từng chú sếu lần lượt đáp xuống đồng cỏ bàng cách chỗ chúng tôi đứng chừng 200 mét. Sáu cá thể tất cả, con cần mẫn kiếm ăn, con ve vãn bạn tình, con nghịch ngợm đá nhau… Chiều biên cương thơ thới…

Sếu đầu đỏ, tên khoa học là Grus antigone sharpie; cao từ 150cm - 180cm; nặng: 8 kg - 10 kg, là loài chim cao nhất trong số các loài chim biết bay trên trái đất. Sếu đầu đỏ sống hiền hòa, đoàn kết và còn là sứ giả của môi trường. Mỗi cặp sếu đầu đỏ khi kết đôi sẽ sống với nhau trọn vẹn cả đời. Khi một con chết, con còn lại sẽ thủy chung và thậm chí tuyệt thực để rồi chết theo bạn đời. Do đó, sếu đầu đỏ còn là biểu tượng của lòng chung thủy cũng như tình yêu bền vững.

Mùa sếu đầu đỏ về là từ tháng 12 đến tháng 5 hàng năm, tháng 3 là thời điểm sếu về nhiều nhất. Mực nước phù hợp cho sếu ngủ là từ ba mét đến bốn mét. Xem sếu thích hợp nhất là trong khoảng thời gian từ 16 giờ đến 18 giờ 30 phút. Ông Nguyễn Phong Vân, Giám đốc Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ, cho biết: Khu vực kênh HT6 và khu vực lộ Đồng Hòa là hai điểm thường xuyên có cá thể sếu di trú tại đây. Điều đáng mừng là ngoài việc di trú về để kiếm ăn thì chúng còn ngủ lại.

 Ông Lê Văn Hồng, Chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Kiên Giang, phấn khởi: “Thành công của dự án Khai thác bền vững đồng cỏ bàng kết hợp với bảo tồn nghề thủ công địa phương là gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống của người dân, nhờ đó nâng cao tính bền vững của đa dạng sinh học.

Dự án đã hướng dẫn người dân địa phương khai thác, phát triển (trồng mới) và bảo vệ cỏ bàng (điều chưa từng có từ trước đến nay ở vùng này). Thay vì bán đổ bán tháo nguyên liệu thô như trước đây, người dân được học làm những mặt hàng thủ công mỹ nghệ từ cỏ bàng để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu. Nhờ đó, thu nhập của các hộ dân trong vùng dự án đã tăng gấp ba lần so với trước.

Việc bảo tồn và phát triển được diện tích cỏ bàng nên đã lôi kéo được số lượng sếu đầu đỏ (có tên trong sách đỏ thế giới) về mỗi năm một tăng, đến nay đã lên đến hơn 300 cá thể. Nơi đây trở thành một trong những điểm tập trung sếu đầu đỏ đông nhất khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Do đó, dự án đã hai lần được nhận giải thưởng của Liên hiệp quốc, kèm phần thưởng 80.000 USD. Hiện nay, Hội Sếu quốc tế tiếp tục tài trợ thêm 150.000 USD để triển khai giai đoạn ba của dự án.”

Nhờ đời sống được cải thiện, người dân Phú Mỹ đã chung sức bảo vệ đồng cỏ bàng như bảo vệ chính “nồi cơm” của mình. Tiến sĩ Trần Triết, đại diện Chương trình Đông Nam Á - Hội Sếu quốc tế tại Việt Nam, nhận xét: “Đây là thắng lợi lớn của việc gắn bảo tồn thiên nhiên với nâng cao đời sống người dân bằng bảo tồn nghề thủ công truyền thống.”

Dự án đang trong giai đoạn củng cố xây dựng cơ sở hạ tầng và nâng cao năng lực quản lý của Ban quản lý Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ. Đồng thời thực hiện các chương trình nghiên cứu trồng dưỡng bàng tự nhiên, kết hợp với xây dựng kế hoạch đồng quản lý dựa vào cộng đồng, để khai thác bền vững đồng cỏ bàng tự nhiên. Trong tương lai, kế hoạch du lịch cũng là một trong những hoạt động được được quan tâm.

Ngày 15.07.2016, Quyết định số 11/QĐ-UBND ngày 05.01.2016 của UBND tỉnh Kiên Giang phê duyệt dự án và thành lập Khu Bảo tồn loài – sinh cảnh Phú Mỹ, xã Phú Mỹ, huyện Giang Thành, tỉnh Kiên Giang được công bố. Khu rộng khoảng 2.700 ha, trong đó diện tích vùng lõi khoảng 940 ha và diện tích vùng đệm khoảng 1.760 ha. Khu Bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ được thành lập nhằm bảo tồn đa dạng sinh học, trong đó ưu tiên bảo tồn hệ sinh thái đồng cỏ bàng duy nhất còn sót lại ở đồng bằng sông Cửu Long (753 ha), do đó có giá trị đặc biệt về đa dạng sinh học, với đặc trưng nhiễm phèn nặng, giàu hữu cơ, ngập theo mùa và thực vật thích nghi chính yếu là cây cỏ bàng (Lepironia articulata), ngoài ra còn nhằm duy trì số lượng sếu đầu đỏ (Grus Antigone sharpie) về đây mỗi năm, vì đây là loài chim quý hiếm đang có nguy cơ tuyệt chủng ở cấp độ toàn cầu.

Ban quản lý Khu bảo tồn có trách nhiệm quản lý, bảo tồn, bảo vệ, tổ chức khai thác giá trị tài nguyên và môi trường trong khu bảo tồn. Quản lý hoạt động nghiên cứu khoa học thu thập nguồn gen mẫu vật. Bảo tồn loài thực vật đặc trưng như: cỏ bàng – cỏ mồm mốc, cỏ năng nỉ, cỏ năng ngọt, cỏ hoàng đầu ấn, tràm... Với hệ động, thực vật hơn 472 loài, trong đó; 134 taxa phiêu sinh thực vật, 69 loài phiêu sinh động vật, 7 loài động vật đáy, 39 loài nhện, 65 loài côn trùng thủy sinh; 23 loài cá; 23 loài lưỡng cư bò sát và với hơn 132 loài chim; đặc biệt là loài sếu đầu đỏ.

Ông Nguyễn Phong Vân, Giám đốc Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Phú Mỹ (huyện Giang Thành, Kiên Giang) cho biết, trong hai ngày 17 và 18.4 vừa qua, đã có gần 40 sếu đầu đỏ trưởng thành bay về khu bảo tồn, nhiều con cao gần bằng con trâu. Đây là đợt sếu về nhiều nhất từ đầu tháng tư đến nay, lần ít nhất khoảng 5 con. Điều kiện tự nhiên tại đây đang rất thuận lợi, nguồn thức ăn dồi dào nên thời gian sếu về có thể kéo dài đến giữa tháng 5.

 

Đỗ Quang Tuấn Hoàng

 

;
.
.
.