Người trồng cà phê và nỗi lo mùa thu hoạch - Nông Thôn Việt

Người trồng cà phê và nỗi lo mùa thu hoạch

Thứ Tư, 06/12/2017, 16:39 [GMT+7]

Khan hiếm nhân công

Cuối tháng 11, nhiều vườn cà phê ở Tây Nguyên đã dần chín rộ. Trong các hội nhóm của nông dân trên mạng xã hội, cũng xuất hiện thêm nhiều thông tin cần thuê người hái cà phê. Mặc dù vậy ở phần bình luận, số người vào hỏi thông tin để làm việc thì ít, số than thở vì cùng cảnh ngộ tìm không ra công hái thì nhiều. Anh Nguyễn Văn Còn, xã Đăk Mar, huyện Đăk Hà, tỉnh Kon Tum cho biết gia đình anh cần thuê từ 3-5 người.

Tuy nhiên, dù ráo riết dò hỏi thuê cả xung quanh lẫn trên mạng xã hội từ cách đây hơn một tháng, nhưng đến nay, anh Còn mới chỉ thuê được 2 người. “Kết hợp với người nhà tôi nữa thì xem như được 5 công hái cho 3 ha cà phê. Số nào hái không kịp bị chín rụng thì mình chịu khó đi nhặt chứ không còn cách nào”, anh Còn nói.

Nhiều nỗi lo khiến người trồng cà phê không có được mùa thu hoạch với niềm vui trọn vẹn.
Nhiều nỗi lo khiến người trồng cà phê không có được mùa thu hoạch với niềm vui trọn vẹn.

Trường hợp ông Phạm Văn Hòe, xã Cư Mốt, huyện Ea H’leo, Đăk Lăk có vẻ khốn đốn hơn. Nhà ông Hòe có ba người con. Tuy nhiên, đứa đi học, đứa đi làm đều ở TP. HCM. Dò tìm người hái cho 1,5 ha cà phê của nhà mình mãi không được, hai vợ chồng ông Hòe đành kéo đệm đi hái dần khi số lượng quả chín chỉ mới đạt chừng 30%. “Thôi đành vậy! Chứ chờ tới khi nó chín rộ thì hai ông bà già này chỉ có đi nhặt quả rụng thôi chứ hái sao xuể!”, ông Hòe thở dài.

Là thủ phủ cà phê của cả nước với diện tích trên 500 ngàn ha, mỗi năm vào mùa thu hoạch, Tây nguyên cần đến hàng trăm ngàn lao động thời vụ (kéo dài khoảng 1 tháng). Do gần như nhà nào cũng có trồng cà phê, nên nông dân ở đây chủ yếu trông chờ vào lượng lao động từ các khu vực khác đến, như miền Trung hay Đồng bằng sông Cửu Long. Song, do tính chất thời vụ nên lượng nhân công thường không ổn định, thiếu nhiều so với nhu cầu. Để thu hút người làm, các chủ vườn không ngần ngại tăng giá thuê kèm các ưu đãi như bao ăn ở, trả tiền vé xe khách khi lao động đến làm hoặc lúc họ trở về quê. Thậm chí, chủ vườn cũng sẵn sàng trả tiền cho ai giới thiệu và giúp mình thuê được nhân công.

Nếu so với năm 2016, thì giá thuê người hái cà phê hiện nay cao hơn khoảng 20 ngàn đồng/ngày. Nếu làm công nhật, giá thuê phổ biến sẽ là 200 ngàn đồng/ngày. Nếu hái khoán, giá sẽ từ 1.000-1.200 đồng/kg (năm 2016 chỉ từ 800-900 đồng/kg). Ngoài ra, nếu nhận hái theo tháng (làm việc khoảng 26 ngày), thì người làm sẽ được trả khoảng 4,5 triệu đồng, bao luôn ăn ở.

Khốn đốn vì mất trộm

Không chỉ chật vật với việc tìm thuê công hái, một vấn nạn khác cứ đến dịp lại rộ lên càng khiến cho người trồng cà phê ở Tây Nguyên “ăn không ngon, ngủ không yên”, đó là tình trạng mất trộm. Chẳng lạ gì cảnh trong khi chủ vườn còn mải tìm thuê người hái, đồng thời cũng chờ cà phê chín đạt trên 90% như khuyến cáo của ngành chức năng thì một ngày vào thăm rẫy, chợt tá hỏa khi kẻ trộm chỉ sau một đêm đã “thu hoạch” trước mất vài mươi cây.

Chỉ vào những cây cà phê xơ xác cành lá, dưới gốc vẫn còn vương vãi một ít trái, ông Trần Quang Sĩ, xã Ia Grăng, huyện Ia Grai, tỉnh Gia Lai uất ức nói: “Bỏ biết bao nhiêu công của chăm bẵm cả năm trời, chưa kịp thu thì trộm nó đã hớt tay trên thế đấy!”. Theo lời ông Sĩ, tình trạng bị hái trộm cà phê vốn xảy ra từ những năm trước. Năm nay, do thấy cây chỉ mới chín rải rác chứ chưa đồng loạt nên gia đình ông chủ quan, chưa cắt cử người túc trực canh rẫy. Thế rồi chỉ sau một đêm, kẻ gian đã lẻn vào vườn nhà ông Sĩ và tuốt hết gần 50 cây cà phê chín sớm. Nếu trung bình mỗi cây khoảng 25 kg trái tươi, ông Sĩ đã mất đi hơn 1 tấn trái.

Rất nhiều trường hợp do nhà ở một nơi nhưng vườn rẫy một nẻo, vì vậy, chuyện dễ bị mất trộm cũng không quá lạ. Những vườn càng ở xa khu dân cư càng dễ bị kẻ gian chú ý. Vào mùa thu hoạch, gần như nhà nào cũng phải cử người vào rẫy dựng chòi ở để canh trộm. Tuy nhiên, với những nhà neo người như nhà ông Hòe thì chỉ chờ may rủi. Có khi, người canh vắng mặt tại vườn chốc lát thôi, khi trở lại thì đã có vài ba cây bị cắt cành (đem đến nơi thuận tiện mới tuốt trái sau) đến trơ trụi. Cũng không hiếm trường hợp vì vườn quá rộng, người canh đang ở đầu rẫy thì phía cuối rẫy kẻ gian cứ ung dung tuốt trái.

Dù xót của và uất ức vì bị kẻ gian ăn trên mồ hôi, công sức của mình, nhưng phần đông nông dân chọn giải pháp nếu gặp trộm sẽ xua cho chạy chứ không dám làm căng. Theo họ thì việc mất vài chục kí hay vài tạ cà phê sẽ không là gì nếu so với việc kẻ trộm quay trở lại phá hoại cả vườn để trả thù.

Giá cả tuột sâu

Những ngày này, dù có thuê đủ nhân công hay chưa, thì người trồng cà phê ở Tây nguyên cũng phải tiến hành mùa thu hoạch mới. Và dĩ nhiên, khi hàng hóa đã về nhà, thì nỗi bận tâm của họ lúc này chính là giá cả. Đáng buồn, những tin tức từ thị trường đã không khả quan như mong đợi.

Trước thời điểm thu hoạch của niên vụ hiện nay, giá cà phê nhân có lúc đạt 45-46 ngàn đồng/kg, tuy nhiên, đó là lúc mà chỉ số ít người còn trữ hàng từ niên vụ trước mới được hưởng lợi. Khi các vườn cà phê của nông dân bắt đầu chín rải rác, thì cũng là lúc giá cà phê rớt dần, tuột luôn khỏi mốc 40 ngàn đồng/kg và dao động quanh mức 38-39 ngàn đồng/kg. Trên thị trường quốc tế, báo cáo của các sàn kì hạn cà phê cho biết tính đến ngày 14.11, các quỹ đầu tư ở trong vị thế dư bán. Trong đó, sàn London là 150.070 tấn và sàn New York là gần 765.000 tấn. Điều này có nghĩa chỉ cần phát sinh một tin tức xấu nào đó, khả năng các nhà đầu tư sẽ bán tháo và tình hình lại càng tệ hại.

“Chưa bao giờ người trồng cà phê chúng tôi được hưởng niềm vui trọn vẹn cả!”, ông Trần Quang Sĩ thở dài. Trong hàng chục năm gắn bó cùng cây cà phê, người nông dân này đã quá quen với chuyện được mùa thì mất giá, được giá thì… lại không có hàng hóa để bán. Các khoản chi tiêu trong gia đình, nợ ngân hàng cùng chi phí đầu tư cho niên vụ kế tiếp thường buộc người trồng cà phê phải bán ngay sau thu hoạch, kể cả đó là lúc giá không tốt. “Chi phí thuê nhân công, mua phân bón, thuốc bảo vệ thực vật cứ tăng cao, đồng nghĩa lợi nhuận thu về của chúng tôi teo tóp lại”, ông Sĩ nói.

Phú Li

;
.
.
.
.