'Kho lương' quốc gia trong tà áo mới - Nông Thôn Việt

'Kho lương' quốc gia trong tà áo mới

Thứ Hai, 12/02/2018, 07:57 [GMT+7]

Qua nhiều thập niên, lúa được xem là cây trồng chủ lực ở ĐBSCL. Nhưng nay, do tác động của thiên nhiên lẫn con người, vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước hay còn được ví von là “kho lương” quốc gia, cần “tấm áo mới” để chuyển mình. Sự chuyển mình ấy được đặt trên nền tảng tôn trọng những thay đổi của “mẹ” thiên nhiên và đảm bảo sinh kế của người nông dân.

Tiềm năng nhiều, thách thức lớn

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) nằm ở hạ nguồn, nơi sông Mê Công đổ ra biển. Đây là vùng đất đầy tiềm năng nhưng là châu thổ trẻ, rất mẫn cảm với mọi tác động, là nơi thể hiện rõ nét tương tác và quan hệ hữu cơ nước - đất - con người.

Toàn cảnh ĐBSCL nhìn từ trên cao
Toàn cảnh ĐBSCL nhìn từ trên cao

Vùng đất này chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc, có lợi thế phát triển nông nghiệp, côngnghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo và là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam. ĐBSCL đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước, 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu, có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mê Công. Theo thống kê của các cơ quan chức năng, sản lượng khai thác lúa ở ĐBSCL đã tăng từ 4,5 triệu tấn vào năm 1976 đến nay lên gần 30 triệu tấn, không chỉ góp phần đảm bảo an ninh lương thực trong nước mà còn đóng góp quan trọng đối với an ninh lương thực cho cả thế giới.

Tuy nhiên, theo các cơ quan chức năng, ĐBSCL là một trong bốn đồng bằng bị tác động mạnh nhất do biến đổi khí hậu, nước biển dâng. ĐBSCL đã, đang và sẽ đối mặt với nhiều tác động nghiêm trọng do khí hậu cực đoan, tình trạng khai thác và sử dụng nước ở thượng nguồn Mê Công và các hoạt động nhân sinh khác. Những nguy cơ đó sẽ làm thay đổi căn bản mô hình sản xuất, tập quán sinh hoạt, sinh kế và đời sống của người dân trong vùng.

Cây và con; đất và nước

Theo ông Nguyễn Hữu Thiện, chuyên gia độc lập về sinh thái ĐBSCL, hai trụ cột nông nghiệp và thủy sản dựa trên nền tảng chính là đất và nước. Nhưng hai yếu tố này phụ thuộc vào dòng chảy và quá trình vận chuyển phù sa sông Mê Công. Do đó, có những tên gọi cần thay đổi để phù hợp với sinh thái vùng đất này. Trong quá khứ ở ĐBSCL người dân không có từ “mùa lũ”, chỉ có “mùa nước nổi” để báo hiệu nước từ phía thượng nguồn Mê Công đã đổ về. Có chế độ thủy triều độc đáo với nước lớn, nước ròng hàng ngày, để súc rửa, tự làm sạch đồng bằng.

Buổi sáng trên chợ nổi Cái Răng, Cần Thơ. Ảnh: NTV
Buổi sáng trên chợ nổi Cái Răng, Cần Thơ. Ảnh: NTV

Tuy nhiên, canh tác lúa 3 vụ trong đê bao khép kín đã làm cạn kiệt nguồn thủy sản tự nhiên, như cá trắng đã mất 100%. Đây là nguồn dinh dưỡng quan trọng của nông dân và nguồn thu nhập cho những người không có đất ở nông thôn. Một hiện trạng nữa, vùng đất này đang rơi vào trạng thái giảm phù sa mịn gây bạc màu đất, toàn bộ cát, sỏi về ĐBSCL bị chặn…

Chú trọng giá trị hơn số lượng để phục hồi đất đai, nguồn nước và sức chống chịu của đồng bằng, chuyển đổi mô hình sản xuất tại ĐBSCL, theo nhiều chuyên gia là bài toán “sống còn” hiện nay. GS Võ Tòng Xuân dẫn chứng suốt hơn 40 năm thống nhất đất nước, chính sách an ninh lương thực đã ăn sâu vào cội rễ. Do vậy, hầu hết đầu tư tổ chức sản xuất nông nghiệp chỉ cho cây lúa, từ hệ thống thủy lợi dẫn ngọt đến ngăn mặn.

Dù rằng chi phí đầu tư rất cao nhưng vừa không mang lại hiệu quả kinh tế vừa gây thiệt hại cho nông dân trồng lúa. Vì nhà nước chỉ có biện pháp cho cây lúa, còn nông dân thì trồng cây ăn quả tự phát, nhà máy chế biến cũng tự phát, hai bên không gắn kết được với nhau nên không ai quy hoạch vùng trồng nguyên liệu. Thành ra diện tích canh tác nhỏ lẻ, manh mún tạo điều kiện để thương lái thao túng đầu ra. Do vậy, GS Võ Tòng Xuân cho rằng nếu còn để nông dân làm ăn cá thể, đất đai manh mún, tự do nuôi trồng, là còn sống trong thời tự cung tự cấp, nông dân nghèo vẫn hoàn nghèo.

Một nghiên cứu kinh tế cho thấy khi canh tác lúa 3 vụ liên tục trong 15 năm trên diện tích 1ha, xã hội bị lỗ 47,8 triệu đồng. Điều này có nghĩa là càng làm lúa 3 vụ thì quốc gia càng nghèo thêm. Theo nhận định của GS Hoàng Ngọc Phong, nguyên Phó Viện trưởng Viện chiến lược, phát triển - Bộ Kế hoạch - Đầu tư, vùng ĐBSCL chỉ cần đảm bảo khoảng 1 triệu ha chuyên canh tác lúa chất lượng-năng suất cao đủ để người dân sống tốt (hiện đang quy hoạch đất trồng lúa khoảng 1,7 triệu ha) còn hơn 500 ngàn ha nhiễm mặn có thể trồng lúa mùa đặc sản và tôm một vụ, sẽ có giá trị cao hơn. Việc đảm bảo nước ngọt cho khoảng 1 triệu ha sẽ nhẹ nhàng hơn so với việc cứu thêm 500 ngàn ha nhiễm mặn. Đây cũng là con đường công nghiệp hóa nông nghiệp.

Chủ động hài hòa với thiên nhiên

Nếu thích nghi với tự nhiên dễ dàng hơn việc làm trái tự nhiên, tại sao không chọn thích nghi với tự nhiên? Câu hỏi này được đặt ra tại Hội nghị Chính phủ về chuyển đổi mô hình phát triển bền vững ĐBSCL, mà nhiều chuyên gia, nhà quản lý xem như một Hội nghị Diên Hồng để vùng châu thổ này thịnh vượng trong bền vững, phồn vinh lâu dài.

Lúa ở Đồng bằng sông cửu long. Ảnh: internet
Lúa ở Đồng bằng sông cửu long. Ảnh: internet

Trên nền tảng cần chủ động thích nghi sống chung với ngập và mặn, GS Võ Tòng Xuân đề nghị cần khoác cho vùng châu thổ này một tà áo mới. Tức sản xuất nông nghiệp phải thay đổi: chỉ cần chọn một số cây con chiến lược có giá trị cao, không cần nhiều nước ngọt, có thể sử dụng nước mặn. Nhưng trong quá trình lựa chọn, phải có doanh nghiệp tham gia từ đầu. Vì họ là người sau cùng đầu tư sản xuất nguyên liệu và chế biến thành các mặt hàng cung cấp cho thị trường.

Điệp khúc “được mùa mất giá, trồng chặt-chặt trồng, giải cứu…” sẽ vang mãi nếu sự liên kết chuỗi sản xuất, và liên kết vùng không được thực hiện. Theo GS Hoàng Ngọc Phong, có nhiều mô hình liên kết để nông dân có thu nhập tốt hơn trồng lúa nhưng rào cản chính là hiện doanh nghiệp chưa tham gia đầu tư mạnh vào nông nghiệp. Điều này, theo GS Phong, là thất bại trong chính sách về liên kết chuỗi giữa doanh nghiệp với nông nghiệp và nông dân.

Để vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất quốc gia có hành lang cơ chế và định hướng phát triển theo chiều sâu trước đổi thay của thiên nhiên và vượt qua vùng trũng về thu nhập (thu nhập bình quân vùng ĐBSCL chỉ bằng khoảng 40,2 triệu đồng/người/năm, trong khi cả nước là 48 triệu), tháng 11.2017, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Nghị quyết về phát triển ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu. Đây là nghị quyết đầu tiên của Chính phủ có tính đột phá chiến lược nhằm thực hiện chuyển đổi trên quy mô lớn và xây dựng mô hình phát triển bền vững ĐBSCL.

Trong đó, mục tiêu yêu cầu của Chính phủ là trong thời gian tới, vùng châu thổ này phải có trình độ phát triển khá so với cả nước và thu nhập bình quân đầu người đạt cao hơn trung bình cả nước, sinh kế của người dân được bảo đảm. Tỷ trọng nông nghiệp sinh thái, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao chiếm trên 80%, các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng được bảo tồn và phát triển.

Nghị quyết nhấn mạnh, cần thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp thuần túy, chủ yếu là sản xuất lúa sang tư duy phát triển kinh tế nông nghiệp đa dạng, đáp ứng nhu cầu của thị trường. Chuyển từ phát triển theo số lượng sang chất lượng, xây dựng nông thôn mới gắn với phát triển mạnh mẽ nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp sạch gắn với chuỗi giá trị và xây dựng thương hiệu.

Yêu cầu các địa phương tôn trọng quy luật tự nhiên và tránh can thiệp thô bạo vào tự nhiên. Từ thực tiễn chọn mô hình thích ứng thân thiện môi trường và phát triển bền vững với phương châm chủ động sống chung với lũ, ngập, nước lợ, nước mặn.

Từ đó, bảo đảm được cuộc sống ổn định, khá giả của người dân, đồng thời vẫn đảm bảo bảo vệ được đất, nước và đặc biệt là con người. Khuyến khích sự tham gia của tất cả các bên liên quan, bảo đảm sự gắn kết hữu cơ trong nội vùng cũng như sự liên kết chặt chẽ với vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và Tiểu vùng sông Mê Công. 

Trần Toàn

 

;
.
.
.
.