Chiếc thang leo lên bầu trời - Nông Thôn Việt

Chiếc thang leo lên bầu trời

Thứ Sáu, 06/07/2018, 16:51 [GMT+7]

Đến hẹn lại lên, cứ mỗi độ tháng 5, tháng 6, các thửa ruộng bậc thang Tây Bắc lại đến mùa nước đổ khi sắp bước vào vụ cấy. Mùa nước đổ, hay còn gọi là mùa đổ ải là thời điểm vùng miền núi phía Bắc thu hút du khách tham quan. Tháng 2 năm nay, báo Telegraph của Anh đã bình chọn ruộng bậc thang ở huyện Mù Cang Chải (Yên Bái) và thị trấn Sapa (Lào Cai) là 2 trong số 12 ruộng bậc thang đẹp nhất thế giới. Tuy nhiên, không chỉ là kỳ quan để ngắm, ruộng bậc thang ở vùng Tây Bắc Việt Nam được đánh giá là di sản về nền văn minh nông nghiệp và văn hóa nông thôn của đồng bào dân tộc Hmông, Dao từ ngàn năm trước.

Ruộng bậc thang Mù Căng Chải
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải

Hiện nay, gần 100% ruộng lúa ở Sa Pa là ruộng bậc thang. Đối với người Hmông, người Dao, ruộng bậc thang là cơ sở sản xuất lúa gạo ổn định, là nguồn sống chính, là sức mạnh của dòng tộc. Được xem như tài sản vô giá, nông dân Hmông, Dao thường chia ruộng bậc thang cho con cái khi xây dựng gia đình.

CỦA HỒI MÔN VÔ GIÁ

Ở Sa Pa, những thửa ruộng được coi là lâu đời nhất thuộc về gia đình ông Lò Quẩy Vảng ở thôn Vù Lùng Sung, xã Trung Chải, thửa này nối tiếp thửa kia lên tới 121 bậc.

Ông Lò Quẩy Vảng kể rằng: “Người Hmông hồi mới đến đây có phát rừng làm nương để lấy lúa. Được vài năm thì nương hết màu mỡ lại chuyển nhà đến chỗ khác để tìm cái nương mới. Làm ăn như vậy vừa tốn sức, vừa hại rừng. Không biết có phải vì thế mà cố nội tôi nghĩ ra cách làm ruộng bậc thang hay không, chỉ biết dòng họ 12 hộ nhà tôi đã lần lượt được chia ruộng khi xây dựng gia đình”.

Theo kinh nghiệm của người dân địa phương, ruộng trên đỉnh dốc có diện tích càng rộng thì chứa được nhiều nước, giống như bể lớn điều hòa dòng chảy xuống các ruộng phía dưới. Càng gần nơi thấp, thửa ruộng càng được chia nhỏ giúp giữ nước lâu hơn và giảm áp lực của dòng chảy gây xói lở.

Với người Hmông, khi canh tác ở những thửa đất nhỏ phải gia cố các bờ cho chắc. Trên thửa ruộng có rãnh nước nhỏ, cho nước thửa trên chảy xuống thửa dưới, các rãnh nước này phải so le nhau để không tạo thành lực phá bờ. Thửa cuối cùng nước trên mặt ruộng sâm sấp, thả được vịt, cá. 

Người Hmông có câu “Cha mẹ chết được, nước lửa không thể chết được, cha mẹ chết qua, nước lửa không thể chết qua” để đúc kết về tầm quan trọng của nước đối với việc canh tác ruộng bậc thang. Nhiều thửa ruộng bậc thang sử dụng hệ thống ống dẫn nước là thân cây tre, cây vầu bổ đôi. Sau khi thu hoạch, nếu có nước, người ta tháo nước vào các chân ruộng để ngâm nước. Khi nước ngập chân ruộng, các rãnh nước được bịt lại để tránh sự rửa trôi của đất.

Hệ thống dòng chảy ruộng bậc thang thường bắt nguồn từ đầu nguồn suối trên núi cao, chảy theo mạch mương được đào sẵn. Mạch mương để dẫn nước xuyên suốt còn có các máng dẫn nước làm từ thân cây vầu, nước được dẫn theo lòng máng chảy thẳng vào ruộng.

Ruộng bậc thang Sapa mùa nước đổ
Ruộng bậc thang Sapa mùa nước đổ

KỲ VĨ HÀ NHÌ

Nói đến ruộng bậc thang ở Lào Cai, không thể không nhắc đến ruộng bậc thang ở thung lũng Thề Pả, thuộc địa phận các xã Y Tý và Ngải Thầu của huyện Bát Xát, Lào Cai, nằm ở độ cao từ 1.500m đến 2.000m so với mực nước biển.

Quê hương của người Hà Nhì là những vùng “Núi non hiểm trở, trời cao lồng lộng, mây che phủ tuyệt đẹp”. Để sinh sống, họ đã sáng tạo ra một nền văn hóa ruộng bậc thang. Người Hà Nhì làm ruộng bậc thang ở những triền dốc bao quanh ôm lấy bản làng. Đến các bản của người Hà Nhì dù ở bất cứ đâu ta cũng phải ngạc nhiên thích thú với những thửa ruộng, những triền ruộng gối nhau từ chân đến tận đỉnh đồi, núi. Có thửa to rộng nhưng cũng có thửa chỉ đủ một, hai luống cày.

Ông Lý Seo Chơ, 74 tuổi, người Hà Nhì ở thôn Lao Chải 1, xã Y Tý, huyện Bát Xát, cho biết: Yêu cầu của ruộng bậc thang là phải dựa vào thế đồi, núi, thuận tiện cho việc tưới tiêu và bón phân. Để có ruộng bậc thang, đầu tiên phải be bờ, đào mương, những con mương dài từ nơi nguồn nước tới chân ruộng. Người ta lấy đất ướt trộn với đá cuội rồi đắp bờ, trát kín để nước không thấm, không tràn mà mương lại kiên cố, đẹp đẽ. Có những con mương dài tới 10km dẫn nước tưới lần lượt từ thửa ruộng cao tới thửa ruộng thấp, cứ tới một khoảng cách nhất định người ta lại đào rãnh phòng lũ, tránh trần ruộng, bố trí nước chảy vào ruộng tích đất màu phòng đất màu bị cuốn trôi.

Chỉ bằng đôi mắt tinh tế, đôi bàn tay khéo léo và những nông cụ thô sơ mà người Hà Nhì đào được những con mương có thể thả một cái mẹt trôi từ đầu mương đến cuối mương. Các nguồn nước trên núi cao được dẫn xuống bản theo các khe lượn quanh sườn núi và tưới vào ruộng.

Bà Chu Thùy Liên, nhà nghiên cứu người Hà Nhì, Phó ban Dân tộc tỉnh Điện Biên, cho biết: “Người Hà Nhì có phương pháp bón phân độc đáo là “xối phân”. Nghĩa là vào mùa mưa, người ta nuôi các con gia súc lớn trên đầu mương, máng để phân của chúng theo mương tràn xuống các thửa ruộng bậc thang. Dưới chân các bản đều có hố ủ phân chứa các loại phân chuồng, phân xanh, tro. Đến cuối xuân đầu hạ, khi bắt đầu ươm trồng, gieo hạt, người ta xả nước vào hố phân để nước phân chảy theo các đường dẫn vào ruộng. Khi có những cơn mưa mùa hạ, lại có thêm nhiều dòng chảy từ sườn đồi, núi đổ xuống kéo theo các loại phân hữu cơ như cành lá cây mục, xác động vật thối rữa. Vậy là họ lại tận dụng được tác dụng của việc tưới phân tự nhiên.”

BẢO TÀNG VĂN HÓA

Theo thống kê, người Hmông hiện trồng bảy loại lúa tẻ là Lửu Khoái, Mế Lỉnh Sí, Nả Lính Sí, Tả Lèng, Plê La, Thóc Tàu Bay, Lúa nương. Bộ giống lúa của người Dao cũng bao gồm bảy giống tẻ và năm giống nếp. Các giống lúa này đều có năng suất trung bình từ 1,8 tấn/ha đến 3 tấn/ha. Ông Phàn Lở Mẩy, người Dao ở thôn Tả Chảy, xã Tả Phìn, huyện Sa Pa cho biết: “Gia đình mình giữ lại giống lúa nếp Bẻo Nhiêu Pua để làm lễ và làm rượu cái, rồi để nấu cháo cho phụ nữ đẻ ăn. Sau khi sinh con xong, lấy một bát gạo nấu với một con gà đen cho phụ nữ đẻ ăn, sữa sẽ về sớm.”

Ruộng bậc thang Mù Cang Chải mùa nước đổ
Ruộng bậc thang Mù Cang Chải mùa nước đổ

Không chỉ trồng lúa, người Hmông, Dao, Hà Nhì ở Lào Cai còn nuôi cá, vịt trong ruộng bậc thang. Cá chép được thả ngay khi những thửa ruộng bậc thang vừa cấy xong và khi những ruộng lúa bắt đầu chín vàng, người ta tháo nước khỏi ruộng để thu hoạch cá. Rồi sau đó chừng một tuần thì bắt đầu gặt lúa. Với mô hình trên lúa dưới cá/vịt này, cá/vịt và lúa hỗ trợ nhau tạo thành một hệ sinh thái khép kín, cá/vịt ăn các loại sâu rầy, cỏ dại, ốc, làm tơi xốp đất, chất thải của chúng trở thành phân bón trực tiếp giúp cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt, giúp người dân đỡ tốn công làm cỏ.

Ông Nguyễn Trường Giang, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Dân tộc học, công tác tại khoa Nhân học, Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Hà Nội, đúc kết: “Ngoài ý nghĩa là nguồn lợi kinh tế, canh tác ruộng bậc thang là sự sáng tạo văn hóa của nhiều tộc người ở vùng cao. Cách đây vài trăm năm và cho đến ngày nay, trong tay những người nông dân không có loại thiết bị đo đạc, máy móc dù thô sơ nhất, họ chỉ có chiếc cuốc bướm, cuốc chim, xà beng, dao, cày, bừa là các loại nông cụ tự tạo.

Nhưng từng thế hệ nối tiếp nhau đã biết cách tạo ra nguồn nước từ khe suối, tích nước từ những cơn mưa rồi dẫn theo mương máng quanh co chảy về, biến những sườn núi dốc cheo leo thành những thửa ruộng bậc thang kì vĩ. Chiêm ngưỡng những thửa ruộng bậc thang hùng vĩ, người ta sẽ có cảm giác chủ nhân của nó vừa là nghệ nhân, vừa là nghệ sĩ, vừa là kiến trúc sư vì cùng một lúc họ đã giải quyết những khâu quan trọng: hệ thống thủy lợi tinh vi, quy trình khai khẩn và canh tác lúa nước trên thế đất dốc, vận chuyển và bảo vệ thành quả lao động tại từng hộ gia đình.”

 

Ruộng bậc thang là công trình sáng tạo vĩ đại của người dân tộc Hmông, Dao, Hà Nhì, La Hủ, thể hiện trình độ kỹ thuật cao trong các công đoạn như: khai phá, làm đất, dẫn nước và canh tác lúa. Đó là một nguồn sử liệu phong phú về tri thức dân gian trong việc canh tác lúa nước phù hợp với địa hình và khí hậu của người dân. Bên cạnh đó, ruộng bậc thang mang nhiều giá trị về văn hóa, lịch sử, xã hội, khoa học gắn với quá trình hình thành và phát triển của bản làng, con người...

Ông Nguyễn Văn Huy, Phó Giáo sư – Tiến sĩ Dân tộc học - nguyên Giám đốc Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, nhấn mạnh: Ruộng bậc thang không chỉ đơn thuần là ruộng, mà nó còn hàm chứa những kinh nghiệm trồng lúa nước, giống cây trồng, giống lúa thích hợp với ruộng bậc thang. Giá trị của di sản này nằm ở chỗ đó. Vì thế, cần khuyến khích người dân không nên thay đổi cây trồng, không nên thay đổi mục đích sử dụng ở đó.

Đỗ Quang Tuấn Hoàng

Ảnh: Vũ Ngọc Tuấn

 

 

;
.
.
.