Cơ hội nào cho nông sản Việt Nam trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung? - Nông Thôn Việt

Cơ hội nào cho nông sản Việt Nam trong cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung?

Thứ Năm, 08/11/2018, 11:12 [GMT+7]

Bàn về tác động nhiều mặt của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung đối với nền kinh tế Việt Nam nói chung và ngành nông nghiệp nói riêng, TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định, Việt Nam sẽ có cả thách thức và cơ hội đan xen, nhưng dường như phần thách thức là lớn hơn…

TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)
TS Nguyễn Đình Cung, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương (CIEM)

Thưa ông, một cách khái quát nhất, theo quan điểm của ông, cuộc chiến giữa hai nền kinh tế lớn thứ nhất và thứ nhì thế giới là Mỹ và Trung Quốc sẽ tác động như thế nào đến Việt Nam?

Vấn đề này có nhiều ý kiến khác nhau, dù tôi cho rằng mọi đánh giá bây giờ là vẫn còn hơi sớm. Tuy thế, cũng có thể đưa ra một số nhận xét ban đầu: Đây không chỉ là vấn đề thương mại, mà có thể là biểu hiện của một cuộc cạnh tranh giành vị trí lãnh đạo thế giới giữa một bên là thế đang lên, và một bên rất mạnh, nhưng về tổng thể đang đi xuống nên có khát vọng củng cố vị thế.

Cho nên ngay cả cuộc chiến thương mại sẽ không đơn thuần trên một phương diện trong ngắn hạn, mà có thể kéo dài và đang ở giai đoạn gia tăng, chưa đến đỉnh điểm để có thể hạ nhiệt. Nhưng cũng không riêng gì hai nước lớn này mà trên toàn thế giới, có thể thấy xu hướng toàn cầu hóa đang chậm lại, bảo hộ gia tăng. Châu Âu cũng thế, xu hướng phân cực đang rõ dần lên, đi ngược với quá trình toàn cầu hóa.

Trở lại với câu chuyện Mỹ - Trung. Nhìn chung, các tác động căn bản sẽ là (i) các biện pháp trả đũa lẫn nhau giữa Mỹ và Trung Quốc; (ii) một số nhà đầu tư từ Mỹ và Trung Quốc có thể cân nhắc chuyển dịch đầu tư tới Việt Nam như một lựa chọn để tiếp tục phát triển sản xuất kinh doanh, giảm thiểu được thiệt hại cho căng thẳng thương mại; (iii) một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có thể vấp phải những hàng rào kỹ thuật hạn chế nhập khẩu ở các thị trường Mỹ và Trung Quốc; (iv) Việt Nam có thể phải chịu nhiều sức ép hơn do sự “đổ bộ” của hàng hóa Trung Quốc; và (v) tác động có thể phức tạp hơn ở thị trường tài chính.

Ông nghĩ sao về các gói giải pháp thuế mà hai bên đã và dự định áp đặt lẫn nhau?

Nói cho dễ hiểu, ở gói đầu tiên trị giá 50 tỷ USD, Mỹ áp đặt thuế 25% với một nhóm hàng xuất khẩu từ Trung Quốc sang Mỹ, chủ yếu là sản phẩm công nghiệp công nghệ cao. Trung Quốc trả đũa bằng cách áp thuế tương ứng với các nhóm hàng chiến lược như đậu tương, nông sản thực phẩm. Nhóm hàng mà Trung Quốc nhắm đến mang tính chính trị, vì nó là lợi ích của nhóm cử tri ủng hộ ông Trump.

Trong khi đó, Việt Nam chưa nằm trong chuỗi sản xuất của các mặt hàng công nghệ cao mà Trung Quốc xuất sang Mỹ. Chỉ thị trường chứng khoán bị ảnh hưởng nhất định. Khi đồng Nhân dân tệ giảm giá, thị trường chứng khoán Trung Quốc có chao đảo, tác động đến tỷ giá ở Việt Nam làm cho tỷ giá dao động, có nguy cơ ảnh hưởng ổn định tiền tệ.

Các nhà đầu tư phản ứng bằng cách rút đầu tư ra khỏi thị trường chứng khoán, nên cách đây vài tháng chúng ta chứng kiến VN-Index giảm sút. Về lý thuyết thì khi đồng Nhân dân tệ giảm giá, hàng Trung Quốc xuất khẩu trở nên rẻ hơn, có thể tràn sang Việt Nam nhiều hơn, nhưng thực tế thì chưa thấy rõ điều này.

Đợt thứ 2, lớn hơn, khoảng 200 tỷ USD, nhưng Mỹ cũng nghe ngóng, làm từng bước; Trung Quốc cũng tuyên bố trả đũa. Nhìn vào kim ngạch và chủng loại hàng hóa mà Trung Quốc nhập khẩu từ Mỹ thì tôi nghĩ họ cũng không còn nhiều dư địa để trả đũa, thế nên có lẽ họ sẽ tiếp tục chọn các mặt hàng chiến lược liên quan đến lợi ích của nhóm đang ủng hộ ông Trump.

Song thế mạnh của Trung Quốc là thị trường tiêu dùng rộng lớn, họ có thể dựa vào đó để tìm kiếm đồng minh. Nhưng tất cả mới chỉ là dự đoán. Dù sao đi nữa, khi hai bên căng thẳng, kinh tế thế giới suy giảm thì Việt Nam cũng bị tác động (cho nên dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2019 thấp hơn 2018 và 2020 còn thấp hơn 2019) do cầu xuất khẩu đối với hàng hóa của ta giảm; nhưng có lẽ cũng chỉ ở mức 0,2 - 0,3 điểm % thôi.

Khi Mỹ và Trung Quốc áp thuế cao lên hàng hóa của nhau thì liệu Việt Nam có xuất khẩu được nhiều hơn sang họ không; hoặc nhập khẩu được hàng hóa rẻ hơn từ họ không, đặc biệt là các sản phẩm nông nghiệp?

Phân tích cơ cấu hàng hóa xuất – nhập khẩu thì thấy nông sản của Trung Quốc xuất khẩu sang Mỹ không lớn, mà Mỹ lại không nâng thuế cao với nhóm hàng này, mà nhằm vào hàng công nghiệp công nghệ cao. Thế nên cơ hội gia tăng xuất khẩu nông sản sang Mỹ là không lớn.

Nông sản Mỹ có chảy vào Việt Nam rẻ hơn không, hoặc có khi lại mượn sân Việt Nam để xuất sang Trung Quốc không? Có thể có. Nhưng điều đó có một nguy hại là Trung Quốc có khả năng áp đặt những hàng rào kỹ thuật với nông sản nói chung để tránh nông sản Mỹ, thì nông sản của Việt Nam cũng bị ảnh hưởng theo. Cho nên cơ hội đó có thể cũng có, không lớn, nhưng lợi bất cập hại, không nên sử dụng.

Ở chiều ngược lại, hàng Trung Quốc có mượn sân Việt Nam để sang Mỹ không? Có khả năng đó, nhưng cũng không phải điều gì đáng mừng, thậm chí ta cũng không nên để xảy ra. Thép là mặt hàng điển hình mà Mỹ cho rằng Trung Quốc đã mượn sân VN để nhập nhèm nguồn gốc xuất xứ, cho nên họ áp đặt luôn thuế cao lên thép xuất khẩu của VN… Tóm lại, không nên để gia tăng đột biến những mặt hàng như thế xuất khẩu sang họ, vì họ có thể kiểm soát gắt gao và đánh thuế cao vào hàng hóa do chính chúng ta sản xuất.

Ý tôi là chúng ta sẽ có cơ hội khi Trung Quốc không nhập khẩu nông sản Mỹ thì quay ra nhập khẩu hàng hóa của VN để thay thế?

Hạn chế nhập nông sản của Mỹ cũng có thể gây thiếu hụt hàng hóa ở Trung Quốc, và không chỉ nông sản đâu. Rất có thể Trung Quốc sẽ nhập từ nhiều nước khác, trong đó có VN, để bù vào. Thực ra thì không có chiến tranh thương mại với Mỹ, Trung Quốc đã là thị trường vô cùng lớn cho nông sản rồi, chúng ta còn chưa khai thác hết.

Cho nên đầu tiên phải đặt câu hỏi là chúng ta phải làm gì, phải thay đổi như thế nào, chứ đừng ngồi đó chờ. Muốn bán được hàng thì phải đi chợ, đem hàng hóa tốt ra bày, xem người mua có nhu cầu gì, mức độ nhu cầu ra sao để tìm được đối tác ổn định, từ đó thay đổi cách thức sản xuất, cách thức cung ứng để đáp ứng nhu cầu tốt hơn với quy mô lớn hơn, ổn định hơn…

Nếu không thì sẽ còn tình trạng bị thương lái Trung Quốc tiếp cận mọi ngóc ngách và điều chỉnh nhiệt độ thị trường khiến cho lúc lạnh, lúc nóng; dẫn đến người nông dân bị ép giá, ế hàng như từ trước đến nay mà thôi.

Tóm lại, chiến tranh thương mại với Mỹ có thể làm cho lực cầu từ Trung Quốc lớn hơn, nhưng không chuẩn bị tốt thì ta cũng không tận dụng được. Thái Lan, Philippines, Indonesia với những sản phẩm nông sản cùng loại cũng sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của Trung Quốc. Tôi nghĩ buôn bán với Trung Quốc phải theo con đường chính thức hóa hơn, đừng chấp nhận tiểu ngạch. Mà như thế phải có doanh nghiệp, doanh nhân dẫn dắt thị trường.

Còn cơ hội cho VN nhập hàng rẻ hơn từ Mỹ, khi nước này mất đi thị trường Trung Quốc?

Chỉ nông sản Mỹ có thể rẻ hơn, nhưng nhập nông sản lại là chuyện phải cân nhắc. Với Mỹ, cơ hội có lẽ nằm ở lực hấp dẫn các nhà đầu tư nhiều hơn.

Xin cảm ơn ông!

CHUYÊN GIA KINH TẾ, TS VÕ TRÍ THÀNH: “DOANH NGHIỆP PHẢI HỌC NHIỀU HƠN BAO GIỜ HẾT”

Trung Quốc và Mỹ đều là đối tác thương mại lớn của Việt Nam. Theo thống kê của Hải quan Trung Quốc thì thương mại 2 chiều giữa Việt Nam và Trung Quốc có giá trị kim ngạch lên đến 100 tỉ USD. Trong khi đó, Mỹ cũng là một thị trường xuất khẩu lớn của hàng hóa Việt Nam. Trung Quốc đứng thứ 6 và Mỹ đang đứng thứ 8 về đầu tư tại Việt Nam.

Cho đến thời điểm này, những tác động tiêu cực đến Việt Nam từ xung đột thương mại Mỹ - Trung là chưa rõ, và hầu hết là gián tiếp; nhưng nếu cuộc chiến leo thang thì Việt Nam chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng, đặc biệt là xuất khẩu và qua đó tác động đến tăng trưởng kinh tế.

Do đó, Việt Nam phải nhìn nhận cuộc chiến này hết sức cẩn trọng; nhất là ở khía cạnh đầu tư. Một khi nhìn thấy tính bất định từ cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung thì thay vì mang tiền đi kinh doanh kiếm lợi, nhà đầu tư có thể tìm nơi trú ẩn an toàn. Mà không có đầu tư sản xuất hàng hóa có nghĩa là không có tăng trưởng.

Cũng do tính rủi ro, bất định của cuộc chiến này, nên rất khó lượng hóa, kế hoạch hóa chiến lược phát triển doanh nghiệp. Bên cạnh ứng xử ngắn hạn để tận dụng cơ hội, giảm thiểu rủi ro, thì doanh nghiệp trong mọi lĩnh vực đều phải học hỏi, tìm kiếm để nắm bắt được, bám được vào xu hướng đó. Phải học nhiều hơn bao giờ hết!

Cẩm Hà thực hiện

 

 

;
.
.
.
.