Đa dạng sinh kế từ dự án thí điểm ở Bến Tre - Nông Thôn Việt

Đa dạng sinh kế từ dự án thí điểm ở Bến Tre

Thứ Hai, 13/05/2019, 12:48 [GMT+7]

Hiện có rất nhiều nghiên cứu về năng lực thích ứng của sinh kế trong bối cảnh BĐKH, đa phần các nghiên cứu này sử dụng cách tiếp cận khung sinh kế bền vững đơn lẻ để phân tích những ảnh hưởng của BĐKH đến sinh kế hộ gia đình, từ đó đề xuất một số sinh kế ứng phó với BĐKH.

Mô hình trồng dưa hấu trên đất lúa ở ĐBSCL mang lại hiệu quả kinh tế cao
Mô hình trồng dưa hấu trên đất lúa ở ĐBSCL mang lại hiệu quả kinh tế cao

Sinh kế là khái niệm rộng, được sử dụng trong nhiều lĩnh vực học thuật và nghiên cứu phát triển, đặc biệt là trong các dự án xóa đói giảm nghèo và thích ứng với sự thay đổi. Sinh kế được định nghĩa là “khả năng, nguồn lực (vật chất và phi vật chất) và các hoạt động cần thiết làm phương tiện sống của con người”. Nguồn lực sinh kế được chia thành 5 loại, bao gồm vốn vật chất, vốn xã hội, vốn con người, vốn tài chính và vốn tự nhiên. Chính vì thế, sinh kế được diễn tả như sự kết hợp các tài nguyên/nguồn lực và các hoạt động để kiếm sống hoặc đạt được các mục tiêu kỳ vọng. Sinh kế trở nên bền vững khi nó ứng phó được với các tác động ngắn hạn và thích nghi được các ảnh hưởng dài hạn hoặc có khả năng phục hồi, duy trì và tăng cường khả năng và nguồn lực hiện tại và tương lai, mà không làm tổn hại đến tài nguyên thiên nhiên.

PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, Phó Giám đốc phụ trách Trung Tâm Quản lý nước và BĐKH (Đại học Quốc gia TP HCM) cho biết: “Trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu liên quan đến sinh kế, chẳng hạn như đa dạng sinh kế, sinh kế bền vững, sinh kế thích ứng, hồi phục sinh kế… được thực hiện nhằm hướng đến cải thiện sinh kế một cách bền vững hay giảm tổn thương sinh kế cho các nhóm đối tượng dễ bị tác động trong xã hội. Trong bối cảnh BĐKH, xâm nhập mặn tác động tiêu cực, sinh kế nông thôn phải được giải quyết như một quá trình thích nghi với các thay đổi và tác động. Việc thực thi và nâng cao nhận thức về đa dạng sinh kế và xem xét các mối tương tác giữa đa dạng hóa với tổn thương, nghèo đói, năng suất nông nghiệp, quản lý tài nguyên thiên nhiên, làm gia tăng khả năng thích ứng của sinh kế của nông hộ”.

Cũng theo PGS.TS Nguyễn Hồng Quân, đa dạng sinh kế, một trong các chiến lược sinh kế, thể hiện sự tồn tại của nhiều nguồn thu nhập khác nhau tại một thời điểm, thể hiện mức độ ổn định hay phụ thuộc vào các nguồn sinh kế của cộng đồng. Đa dạng hóa sinh kế là quá trình các thành viên hộ gia đình tìm cách thức mới, xây dựng và tham gia các hoạt động đầu tư đa dạng để tích lũy và tái đầu tư, giảm tổn thương, nhằm mục đích đối phó các “cú sốc” ngắn hạn tạm thời hoặc thích thích ứng lâu dài với các hoạt động sinh kế. Có nhiều nghiên cứu về đa dạng sinh kế vì nó đóng vai trò rất quan trọng, có ý nghĩa sống còn với sinh kế của nông hộ trong ứng phó với sự thay đổi; tuy nhiên, các quốc gia đang phát triển ít xem xét đến nó trong quá trình xây dựng chính sách nâng cao sinh kế và xóa đói giảm nghèo.

PGS.TS Nguyễn Hồng Quân đang chủ trì triển khai thí điểm ở Bến Tre một dự án cấp nhà nước nghiên cứu chuyển đổi các mô hình sinh kế thích ứng với BĐKH cho vùng ĐBSCL. Bước đầu đưa ra trình diễn một số mô hình sinh kế phù hợp với địa phương như: tôm – rừng, tôm – lúa, tôm – dừa, tôm bán thâm canh, chăn nuôi dê, bò sữa… Đánh giá về các mô hình chuyển đổi sinh kế thích ứng với BĐKH này, ông Châu Hữu Trị, Quyền Giám đốc Trung tâm Khuyến nông tỉnh Bến Tre cho biết: “Các mô hình chuyển đổi sinh kế thích ứng với BĐKH tại Bến Tre bước đầu cho thấy được hiệu quả”. Để ứng phó với tình trạng xâm nhập mặn, đảm bảo nguồn nước sinh hoạt cho người dân, theo ông Trị, nông dân đã thích ứng bằng cách tiết kiệm nước sinh hoạt, trữ lại, thay đổi cách canh tác, đưa một số đối tượng vào nuôi, tuân thủ lịch thời vụ, du nhập một số giống loài vật nuôi, cây trồng có phổ thích nghi rộng với độ mặn như: cá nâu, tôm càng, cá bông lau, các giống lúa chịu mặn như OM 4900, OM 6162 ngắn ngày, phù hợp với địa phương.

Khu vực ĐBSCL hiện có 526 vị trí bờ sông, bờ biển bị sạt lở với tổng chiều dài gần 786km, trong số đó có 57 điểm sạt lở đặc biệt nguy hiểm với tổng chiều dài 164 km, bao gồm 38 điểm sạt lở bờ sông, dài 79km và 19 điểm sạt lở bờ biển, chiều dài khoảng 85km.

Dự báo năm 2020, lượng phù sa về ĐBSCL sẽ giảm từ 60 - 65% so với năm 2017, đến năm 2040, lượng phù sa sẽ chỉ còn 3 - 5%, tình trạng sạt lở sẽ càng trầm trọng.

(Nguồn: Tổng cục Phòng, chống thiên tai (Bộ NN&PTNT)

Lê Quang

;
.
.
.
.