Chính sách có, vẫn khó vay - Nông Thôn Việt

Chính sách có, vẫn khó vay

Thứ Sáu, 15/11/2019, 16:47 [GMT+7]

Trong 3 quý đầu năm 2019, tín dụng đối với hầu hết các lĩnh vực ưu tiên đều tăng khá. Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ như cho vay hỗ trợ giảm tổn thất trong nông nghiệp, cho vay khuyến khích nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao... cũng được các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai quyết liệt. Mặc dù vậy, có đến 80% các HTX vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn này.

 

Gần 1,9 triệu tỷ đồng cho vay nông nghiệp, nông thôn

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm 2019 đạt 8,64%, trong đó, tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 22,04%; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 13,2%; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,42%; tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6%; tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 1,85%.

Nói về kết quả cho vay tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, ông Hùng cho biết, NHNN luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên đầu tư vốn. Thời gian qua, NHNN đã tham mưu và trình Chính phủ ban hành nhiều chính sách tín dụng trong nông nghiệp để giúp nông dân dễ dàng tiếp cận vốn phát triển sản xuất, như Nghị định 41/2010, Nghị định 55/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị định 116/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015 với nhiều cơ chế, chính sách đột phá…

Cùng với đó, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) cân đối nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, như quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn từ 1% - 2% lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác; thí điểm cho vay đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao với lãi suất thấp hơn 1 - 1,5%/năm, mức cho vay các dự án lên tới 90% giá trị của phương án; thực hiện chính sách hỗ trợ về nguồn vốn thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ đối với các TCTD có tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn từ 40% trở lên… “Đến nay, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng gần 6% so với cuối năm 2018, chiếm tỷ trọng hơn 24% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Trong đó, dư nợ đối với DN nông nghiệp đạt gần 600.000 tỷ đồng, tăng 5,51% so với cuối năm 2018; dư nợ cho vay liên kết đạt trên 6.200 tỷ đồng với gần 28.500 khách hàng, tăng 15% so với cuối năm 2018. Dư nợ đối với DN tham gia liên kết đạt 1.930 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31% dư nợ cho vay liên kết”. - ông Hùng cho biết.

Cần chương trình hỗ trợ cụ thể

Mặc dù dư nợ tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng tốt, nhưng theo thông tin từ Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PT), hiện khoảng 80% HTX vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn này. Bên cạnh đó, các DN nông nghiệp vẫn rất khó tiếp cận được nguồn vốn theo Nghị định 55/2015. Vì theo quy định, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, HTX, liên hiệp HTX và chủ trang trại được TCTD cho vay không có tài sản đảm bảo theo 8 mức, tối đa từ 50 triệu đồng đến 3 tỷ đồng tùy đối tượng, lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Trong thực tế, hiện kinh tế trang trại vẫn chủ yếu là các hộ gia đình với quy mô đất đai còn hạn hẹp, vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng. Nhiều nông dân cũng phản ảnh, chỉ cần bị một lần nợ xấu là không được tiếp tục vay vốn. Trong khi sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng các cơ chế xử lý, phòng ngừa rủi ro như bảo hiểm trong nông nghiệp chưa được triển khai mạnh mẽ, gây ảnh hưởng lớn đến năng lực tài chính và khả năng trả nợ ngân hàng của khách hàng vay vốn khi gặp rủi ro trong sản xuất, kinh doanh.

Thực tế cho thấy, nguồn vốn của các tổ chức, HTX và người dân chủ yếu phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại, trong khi mục đích hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là lợi nhuận và hạn chế rủi ro, nợ xấu. Hơn nữa, thủ tục vay vốn của các ngân hàng còn phức tạp và đặc biệt là dù Nhà nước đã có chính sách cho nông dân vay tín chấp, nhưng khi vay vốn của ngân hàng, nông dân đều phải có tài sản thế chấp.

Để tháo nút thắt này, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho rằng, thay vì hỗ trợ lãi suất tín dụng thì Nhà nước cần có các chương trình tín dụng cụ thể và phải ủy quyền, ủy thác nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện cho vay. Chẳng hạn như hồ tiêu đang gặp khó khăn thì dành khoảng 5.000 - 10.000 tỷ đồng, Nhà nước ủy thác qua một ngân hàng và vẫn theo cơ chế thương mại nhưng phải quy định chỉ có đối tượng người sản xuất, chế biến, kinh doanh hồ tiêu mới được vay nguồn vốn đó. Lúc đó, nút thắt tiếp cận vốn tín dụng của nông dân mới được tháo gỡ. Ngoài ra, về chiến lược lâu dài, Nhà nước cũng cần thiết lập cơ chế cho hệ thống tín dụng vi mô như các nước chứ không như các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay, cho vay tất cả các lĩnh vực.

Nhằm giảm thiểu những bất cập trong cho vay nông nghiệp, nông thôn, các chuyên gia tài chính cho rằng, định hướng chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thời gian tới cần tiếp tục xác định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực ưu tiên và chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đề xuất các giải pháp hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ cho phát triển của khu vực này. Đầu tư cho vay cần hướng tới sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, tăng khả năng liên kết trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các chuyên gia cũng đề xuất: các cấp có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ, đơn giản hóa trình tự thủ tục cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất… Nhà nước cần có cơ chế định giá đất nông nghiệp với một số địa phương để tạo điều kiện cho khách hàng có cơ sở thế chấp cho khoản vay, bảo đảm đầu tư đủ vốn. Tích cực triển khai Chương trình MTQG về xây dựng Nông thôn mới, trong đó kết hợp giữa chính sách tín dụng thương mại để phát triển nâng cao đời sống người dân với cho vay các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước

Ông Nguyễn Quốc Hùng - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cho biết, tăng trưởng tín dụng 9 tháng đầu năm 2019 đạt 8,64%, trong đó, tín dụng đối với doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao tăng 22,04%; tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu tăng 13,2%; tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tăng 11,42%; tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn tăng 6%; tín dụng đối với lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ tăng 1,85%.

Nói về kết quả cho vay tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, ông Hùng cho biết, NHNN luôn xác định nông nghiệp, nông thôn là một trong những lĩnh vực ưu tiên đầu tư vốn. Thời gian qua, NHNN đã tham mưu và trình Chính phủ ban hành nhiều chính sách tín dụng trong nông nghiệp để giúp nông dân dễ dàng tiếp cận vốn phát triển sản xuất, như Nghị định 41/2010, Nghị định 55/2015 về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, Nghị định 116/2018 sửa đổi, bổ sung Nghị định 55/2015 với nhiều cơ chế, chính sách đột phá…

Cùng với đó, NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD) cân đối nguồn vốn để đáp ứng đầy đủ, kịp thời vốn cho lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, như quy định trần lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VNĐ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thấp hơn từ 1% - 2% lãi suất cho vay các lĩnh vực sản xuất kinh doanh khác; thí điểm cho vay đối với các mô hình liên kết, ứng dụng công nghệ cao với lãi suất thấp hơn 1 - 1,5%/năm, mức cho vay các dự án lên tới 90% giá trị của phương án; thực hiện chính sách hỗ trợ về nguồn vốn thông qua việc sử dụng các công cụ điều hành chính sách tiền tệ đối với các TCTD có tỷ lệ cho vay nông nghiệp, nông thôn từ 40% trở lên… “Đến nay, dư nợ đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đạt gần 1,9 triệu tỷ đồng, tăng gần 6% so với cuối năm 2018, chiếm tỷ trọng hơn 24% tổng dư nợ đối với nền kinh tế. Trong đó, dư nợ đối với DN nông nghiệp đạt gần 600.000 tỷ đồng, tăng 5,51% so với cuối năm 2018; dư nợ cho vay liên kết đạt trên 6.200 tỷ đồng với gần 28.500 khách hàng, tăng 15% so với cuối năm 2018. Dư nợ đối với DN tham gia liên kết đạt 1.930 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 31% dư nợ cho vay liên kết”. - ông Hùng cho biết.

Cần chương trình hỗ trợ cụ thể

Mặc dù dư nợ tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp nông thôn tăng tốt, nhưng theo thông tin từ Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn (Bộ NN&PT), hiện khoảng 80% HTX vẫn chưa tiếp cận được nguồn vốn này. Bên cạnh đó, các DN nông nghiệp vẫn rất khó tiếp cận được nguồn vốn theo Nghị định 55/2015. Vì theo quy định, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, hộ kinh doanh, HTX, liên hiệp HTX và chủ trang trại được TCTD cho vay không có tài sản đảm bảo theo 8 mức, tối đa từ 50 triệu đồng đến 3 tỷ đồng tùy đối tượng, lĩnh vực sản xuất - kinh doanh. Trong thực tế, hiện kinh tế trang trại vẫn chủ yếu là các hộ gia đình với quy mô đất đai còn hạn hẹp, vốn đầu tư là vốn tự có và vốn vay của cộng đồng. Nhiều nông dân cũng phản ảnh, chỉ cần bị một lần nợ xấu là không được tiếp tục vay vốn. Trong khi sản xuất nông nghiệp là lĩnh vực tiềm ẩn nhiều rủi ro, nhưng các cơ chế xử lý, phòng ngừa rủi ro như bảo hiểm trong nông nghiệp chưa được triển khai mạnh mẽ, gây ảnh hưởng lớn đến năng lực tài chính và khả năng trả nợ ngân hàng của khách hàng vay vốn khi gặp rủi ro trong sản xuất, kinh doanh.

Thực tế cho thấy, nguồn vốn của các tổ chức, HTX và người dân chủ yếu phụ thuộc vào các ngân hàng thương mại, trong khi mục đích hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại là lợi nhuận và hạn chế rủi ro, nợ xấu. Hơn nữa, thủ tục vay vốn của các ngân hàng còn phức tạp và đặc biệt là dù Nhà nước đã có chính sách cho nông dân vay tín chấp, nhưng khi vay vốn của ngân hàng, nông dân đều phải có tài sản thế chấp.

Để tháo nút thắt này, ông Lê Đức Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển nông thôn cho rằng, thay vì hỗ trợ lãi suất tín dụng thì Nhà nước cần có các chương trình tín dụng cụ thể và phải ủy quyền, ủy thác nguồn vốn cho ngân hàng thực hiện cho vay. Chẳng hạn như hồ tiêu đang gặp khó khăn thì dành khoảng 5.000 - 10.000 tỷ đồng, Nhà nước ủy thác qua một ngân hàng và vẫn theo cơ chế thương mại nhưng phải quy định chỉ có đối tượng người sản xuất, chế biến, kinh doanh hồ tiêu mới được vay nguồn vốn đó. Lúc đó, nút thắt tiếp cận vốn tín dụng của nông dân mới được tháo gỡ. Ngoài ra, về chiến lược lâu dài, Nhà nước cũng cần thiết lập cơ chế cho hệ thống tín dụng vi mô như các nước chứ không như các ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam hiện nay, cho vay tất cả các lĩnh vực.

Nhằm giảm thiểu những bất cập trong cho vay nông nghiệp, nông thôn, các chuyên gia tài chính cho rằng, định hướng chính sách tín dụng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn thời gian tới cần tiếp tục xác định nông nghiệp, nông thôn là lĩnh vực ưu tiên và chủ động phối hợp với các bộ, ngành có liên quan đề xuất các giải pháp hỗ trợ vốn đầu tư phục vụ cho phát triển của khu vực này. Đầu tư cho vay cần hướng tới sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, tăng khả năng liên kết trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các chuyên gia cũng đề xuất: các cấp có thẩm quyền cần đẩy nhanh tiến độ, đơn giản hóa trình tự thủ tục cấp chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản trên đất… Nhà nước cần có cơ chế định giá đất nông nghiệp với một số địa phương để tạo điều kiện cho khách hàng có cơ sở thế chấp cho khoản vay, bảo đảm đầu tư đủ vốn. Tích cực triển khai Chương trình MTQG về xây dựng Nông thôn mới, trong đó kết hợp giữa chính sách tín dụng thương mại để phát triển nâng cao đời sống người dân với cho vay các chương trình tín dụng chính sách của Nhà nước.

Để dòng vốn tín dụng tiếp tục tập trung được nhiều hơn cho lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, NHNN cam kết sẽ tiếp tục đồng hành và triển khai quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh đầu tư tín dụng có hiệu quả phục vụ sản xuất nông nghiệp của người dân trên địa bàn nông thôn, đẩy mạnh cho vay phục vụ nhu cầu đời sống, tiêu dùng chính đáng của người dân, thông qua đó góp phần giảm nạn tín dụng đen hiện nay tại khu vực này. NHNN tiếp tục chỉ đạo các TCTD xây dựng và triển khai những sản phẩm tín dụng phù hợp với người nông dân và đặc thù của sản xuất nông nghiệp; kịp thời triển khai các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho khách hàng vay vốn trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn. Chỉ đạo hệ thống ngân hàng đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong hoạt động tín dụng, ngân hàng, cải tiến quy trình, thủ tục, rút ngắn thời gian xét duyệt cho vay; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ 4.0, cung ứng các sản phẩm tiện ích ứng dụng công nghệ mới phù hợp với nhu cầu của người dân, doanh nghiệp tại khu vực nông thôn, đảm bảo khơi thông và chuyển tải nguồn vốn tín dụng đến người nông dân một cách hiệu quả nhất.

Đào Minh Tú - (Phó Thống đốc NHNN)

 

VI QUÂN

;
.
.
.
.