9 điểm hạn chế của kinh tế Việt Nam - Nông Thôn Việt

9 điểm hạn chế của kinh tế Việt Nam

Thứ Ba, 03/03/2020, 08:51 [GMT+7]

Mặc dù đạt được tăng trưởng cao trong năm 2019 và triển vọng của kinh tế Việt Nam năm 2020 là khá sáng. Nhưng kinh tế Việt Nam vẫn còn nhiều điểm hạn chế.

 

1. Tăng trưởng chưa thực sự bền vững và hài hòa. Chúng ta vẫn phải tính toán và cân nhắc mục tiêu tăng trưởng từng năm do các nhân tố đóng góp vào tăng trưởng còn thiếu ổn định. Có địa phương đã tìm được động lực và đạt mức tăng trưởng cao song cũng có địa phương tăng trưởng thấp do chưa tìm được động lực tăng trưởng. Trong khi các tỉnh miền núi phía Bắc, Tây nguyên, ĐBSCL vẫn còn nhiều khó khăn để đạt tăng trưởng, các đô thị động lực vẫn đang đối mặt với nhiều điểm nghẽn về cơ sở hạ tầng và tình trạng quá tải đô thị. Các ngành công nghiệp và dịch vụ đạt mức tăng trưởng cao nhưng vẫn chưa thể kéo được ngành nông nghiệp đi lên. Năng suất lao động, trình độ phát triển các cụm ngành và năng lực tham gia Bản đồ chuỗi giá trị toàn cầu (GVC) còn thấp.

2. Khoảng cách với các nước mặc dù đã được thu hẹp đáng kể về tỷ lệ, song khoảng cách tuyệt đối vẫn còn rất lớn. Trong 5 năm tới, Việt Nam có khả năng cao sẽ chuyển lên nhóm nước có thu nhập trung bình cao (từ trên 3.996USD theo giá 2019), nhưng để chuyển lên nhóm có thu nhập cao (từ 12.375USD theo giá 2019) sẽ là rất thách thức. Đặc biệt, thu nhập bình quân đầu người ngày càng giãn cách so với GDP bình quân đầu người. Tình trạng này khá nghiêm trọng ở một số địa phương được xem là có nền công nghiệp phát triển.

3. Chất lượng tăng trưởng còn thấp, chưa khơi dậy hết các tiềm năng và lợi thế. Tăng trưởng nhìn chung vẫn dựa vào vốn đầu tư (mặc dù năng suất và hiệu quả sử dụng vốn đã cải thiện hơn nhiều) và sự chuyển dịch của lao động (chủ yếu từ khu vực nông nghiệp chuyển sang), trong khi năng suất lao động và năng suất các yếu tố tổng hợp TFP vẫn còn thấp, đặc biệt năng suất lao động trung bình của Việt Nam vẫn còn thấp hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực. Các yếu tố về khoa học công nghệ, hàm lượng tri thức kết tinh trong chuỗi giá trị sản phẩm và xuất khẩu vẫn còn thấp.

4. Ngành nông nghiệp mang lại thu nhập và sinh kế cho một bộ phận rất lớn người dân nhưng còn nhiều nút thắt, tăng trưởng bấp bênh. Dịch tả lợn châu Phi khiến người nuôi heo điêu đứng, trong khi những nông dân trồng điều, hồ tiêu và nhiều sản phẩm nông nghiệp khác cũng không khá hơn. Khu vực kinh tế hợp tác, đặc biệt là các HTX nông nghiệp còn rất nhiều khó khăn. Ngành công nghiệp, đặc biệt công nghiệp chế biến chế tạo tăng trưởng mạnh, là động lực quan trọng nhất của tăng trưởng, song hàm lượng giá trị gia tăng thấp, lao động chủ yếu vẫn giản đơn, lắp ráp thủ công, chỉ nằm ở cấp thấp trong GVC. Các ngành dịch vụ tăng trưởng vẫn còn thiếu ổn định, giá trị gia tăng thấp. Ngành du lịch đạt được nhiều thành quả và ngày càng đóng góp lớn hơn vào tăng trưởng kinh tế, đang dần khẳng định là một ngành kinh tế mũi nhọn theo tinh thần NQ08 của Bộ Chính trị, tuy nhiên chất lượng du khách và mức chi tiêu thấp, đóng góp vào việc làm và ngân sách còn hạn chế.

5. Môi trường kinh doanh và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Mặc dù xếp hạng GCI 2019 của Việt Nam có sự thăng tiến vượt bậc nhưng so với nhiều nước trong khu vực, vị trí của Việt Nam vẫn còn khiêm tốn. Xếp hạng nhiều trụ cột còn ở nhóm thấp dưới trung bình của thế giới. Các đề án tái cơ cấu kinh tế và 3 đột phá chiến lược vẫn còn nhiều trở ngại. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vẫn chưa thực sự đồng bộ, đầy đủ và hiệu quả (ví dụ như quyền tài sản chưa được bảo hộ tốt, các thị trường chưa được hình thành đồng bộ và phát triển, cơ chế giá cả còn cứng nhắc…). Việc gỡ nút thắt thể chế này đôi khi lại tạo ra một nút thắt thể chế khác. Thủ tục hành chính và việc thực thi các quy định pháp luật, đặc biệt ở cấp địa phương chưa thực sự tốt. Chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt nguồn nhân lực chất lượng cao đón đầu cách mạng công nghiệp 4.0 còn thấp.

6. Chất lượng đầu tư công và hiệu quả của doanh nghiệp nhà nước (DNNN) còn nhiều hạn chế. Nhiều dự án đầu tư công vẫn bị chậm tiến độ, dàn trải, đội vốn, kém hiệu quả; đặc biệt là các dự án đầu tư trọng điểm quốc gia, quy mô lớn có ý nghĩa lan tỏa kinh tế và thúc đẩy xã hội. Hiệu quả hoạt động của các DNNN vẫn còn thấp, tính cạnh tranh chưa cao. Nhiều DNNN vẫn giữ vị trí độc quyền trong nước trong khi không có khả năng cạnh tranh và vươn tầm quốc tế, quản trị doanh nghiệp chậm đổi mới theo các chuẩn mực quốc tế; tiến độ cải cách, cổ phần hóa DNNN còn chậm so với yêu cầu.

7. Các thiết chế văn hóa - xã hội còn bất cập. Một số biểu hiện suy thoái đạo đức, lối sống, văn hóa ứng xử, những vụ việc bạo lực gia đình, học đường, bạo hành trẻ em, phụ nữ gây bức xúc xã hội. Tình trạng mất định hướng sống, lệch lạc trong nhận thức chuẩn giá trị của một bộ phận giới trẻ đáng quan ngại. Nhiều hoạt động sinh hoạt tín ngưỡng tôn giáo thiếu lành mạnh, gây mất niềm tin của tín đồ. Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, nguy cơ tái nghèo còn cao. Một số đối tượng chính sách thiếu động cơ cải thiện, có tâm lý trông chờ, ỷ lại nhà nước còn phổ biến. Chênh lệch giàu nghèo ngày càng lớn; đời sống của một bộ phận người dân còn khó khăn, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng bị thiên tai, biến đổi khí hậu.

8. Công tác quản lý môi trường và chống biến đổi khí hậu còn nhiều khó khăn, thách thức. Chất lượng môi trường ở nhiều nơi xuống cấp, nhất là tại các đô thị, khu công nghiệp, làng nghề, lưu vực một số sông, suối, ao, hồ. Môi trường biển ở nhiều nơi đang bị ô nhiễm bởi rác thải sinh hoạt, đặc biệt là rác thải nhựa, nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển và tiềm năng du lịch biển. Năng lực và nguồn lực quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng chống thiên tai còn hạn chế. Vùng ĐBSCL chiếm 21% dân số, 20% GDP, 56% sản lượng lúa, 60% lượng trái cây, 70% sản lượng tôm, 95% sản lượng cá tra, 95% lượng gạo và 60% thủy sản xuất khẩu của cả nước nhưng đang chịu thách thức ngày một lớn của biến đổi khí hậu. Các tỉnh miền Trung đối mặt ngày càng nhiều những cơn bão lớn trong khi các tỉnh miền núi phía Bắc mỗi năm hứng chịu nhiều đợt mưa lũ nghiêm trọng. Trong khi đó, ở một số nơi, nhận thức về vai trò và ý nghĩa của việc bảo vệ môi trường, chống biến đổi khí hậu chưa thực sự tốt.

9. An ninh và quốc phòng còn nhiều mối đe dọa gây bất ổn. An ninh trật tự, an toàn xã hội còn diễn biến phức tạp ở một số địa phương, nhất là tội phạm có tổ chức, xuyên quốc gia, sử dụng công nghệ cao, ma túy, tệ nạn xã hội, tín dụng đen. Sự gắn kết giữa phát triển KT - XH với bảo đảm quốc phòng, an ninh chưa thực sự chặt chẽ, hiệu quả. Bảo vệ chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ còn nhiều khó khăn và thách thức, đặc biệt là vấn đề Biển Đông.

Bối cảnh kinh tế 2020

Kinh tế thế giới 2020 dự báo sẽ tiếp tục trên đà suy giảm và chứa đựng nhiều nhân tố gây bất ổn. Căng thẳng và tranh giành địa chính trị - kinh tế ở một số nơi trên thế giới sẽ gây tác động tiêu cực lên giá dầu cũng như làm gia tăng bất ổn lên các thị trường tài chính thế giới. Đặc biệt, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung sẽ tiếp diễn với mức độ ngày càng phức tạp, cao trào hơn và càng khó đoán định. Bên cạnh đó còn là sự tiếp tục trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ, chủ nghĩa dân tộc, chủ nghĩa dân túy. Sự suy giảm tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc cũng cần phải được chú ý, bởi vai trò của nền kinh tế Trung Quốc đối với tăng trưởng kinh tế toàn cầu cũng như đối với Việt Nam là rất lớn. Biến đổi khí hậu sẽ ngày càng trở thành thách thức đối với sự tăng trưởng bền vững của Việt Nam khi là một trong 5 nước chịu tác động nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu, trong đó ĐBSCL là tâm điểm của thách thức này. Già hóa dân số sẽ diễn ra nhanh. Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ tạo ra nhiều thành tựu công nghệ dẫn dắt sự tăng trưởng kinh tế thế giới, mang lại cơ hội việc làm, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người dân, song cũng đặt ra các thách thức chuyển đổi kinh tế, mất việc làm, gia tăng bất bình đẳng xã hội, và các thách thức an ninh mạng, an ninh phi truyền thống.

Những nhiệm vụ lớn trong năm 2020

Nỗ lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao cùng với duy trì nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, giữ vững và cải thiện các cân đối của nền kinh tế; Thúc đẩy cải cách, khơi thông và tạo ra các động năng tăng trưởng kinh tế mới;

Cần cải cách thể chế kinh tế một cách sâu rộng hơn nữa để giải phóng các tiềm năng, khơi thông các động năng phát triển của đất nước; Hoàn thiện bộ máy và nâng cao năng lực quản trị nhà nước ở cấp trung ương lẫn cấp địa phương; Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Khuyến khích đổi mới và sáng tạo trong mọi hoạt động của nền kinh tế; Tiếp tục tăng cường phân cấp mạnh mẽ hơn cho chính quyền địa phương đi cùng với trách nhiệm giải trình từ dưới lên;

Cải cách mạnh mẽ và triệt để hơn nữa nền giáo dục nước nhà. Giáo dục có một sứ mạng lớn lao trong việc chấn hưng dân tộc;

Cải cách hệ thống an sinh xã hội, chuyển từ nhận phúc lợi sang phúc lợi gắn với lao động; tăng cường đầu tư cải thiện vốn văn hóa và trí thức trong nhân dân;

Ưu tiên tăng chi tiêu cho khoa học và công nghệ, R&D để đón cơ hội Cách mạng 4.0;

Kiểm soát tốt vấn đề môi trường, chiến lược thích ứng với biến đổi khí hậu;

Quyết tâm đầu tư và hoàn thiện hệ thống kết cấu hạ tầng trọng yếu, xương sống, huyết mạch của quốc gia; Tăng cường đầu tư cho tiềm lực quốc phòng, ứng phó thách thức Biển Đông và nhiều mối đe dọa an ninh khác.

 

ĐỖ THIÊN ANH TUẤN

Trường Chính sách công và Quản lý Fulbright

;
.
.
.
.