Sao cứ bảy nổi ba chìm? - Nông Thôn Việt

Sao cứ bảy nổi ba chìm?

Thứ Hai, 13/07/2020, 09:49 [GMT+7]

Là một quốc gia biển nhiều nắng gió, Việt Nam là nơi có “địa lợi” cho nghề muối. Thế nhưng nhiều năm qua, nghề muối vẫn bảy nổi ba chìm. Hạt muối thô suốt gần 20 năm qua vẫn chưa vượt nổi mức giá 1.000 đồng/kg. Tháng 6/2020, giá muối thô trung bình chỉ 700 đồng/kg, muối sạch 1.100 đồng/kg.

 

“Địa lợi” chưa đem lại nhiều lợi

Theo Quy hoạch Phát triển ngành muối đến năm 2020, tầm nhìn 2030 đã được Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn phê duyệt, đến năm 2020, tổng diện tích sản xuất muối ổn định 14.500ha, sản lượng đạt 2 triệu tấn, trong đó diện tích sản xuất muối công nghiệp 8.000ha, sản lượng đạt 1,31 triệu tấn, chiếm 65,5%. Đến năm 2030, sản lượng muối công nghiệp và muối sạch sẽ tăng nhằm đáp ứng nhu cầu muối cho tiêu dùng dân sinh, các ngành công nghiệp; tỉ lệ xuất khẩu các loại muối biển sạch, giàu vi lượng cũng sẽ tăng. Dự kiến khi đó diện tích sản xuất muối là 16.500ha, sản lượng 2,9 triệu tấn, trong đó muối công nghiệp 1,95 triệu tấn chiếm 67,24% sản lượng muối; sản xuất muối sạch có trải bạt nền ô kết tinh, phủ bạt che mưa đạt trên 80% diện tích sản xuất muối.

ảnh minh họa
Ảnh minh họa

Thực tế, theo báo cáo mới nhất của Cục Kinh tế hợp tác và phát triển nông thôn (Bộ NN&PTNT), hiện nay, cả nước có 19 tỉnh/thành phố, gồm 40 huyện và 79 xã có sản xuất muối. Miền Bắc có 6 tỉnh gồm: Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình. Nam Trung bộ có 6 tỉnh gồm: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận. Nam bộ có 7 tỉnh gồm: Bà Rịa - Vũng Tàu, Thành phố Hồ Chí Minh, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Các vùng sản xuất muối đều đã hình thành lâu đời dựa trên yếu tố thuận lợi về thời tiết, vị trí, diện tích... và đa phần mang tính tự phát, chủ yếu vẫn theo phương pháp thủ công và phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết. Do vậy sản lượng muối giai đoạn 2010 - 2018 không ổn định. Đang có xu hướng giảm phương pháp sản xuất muối thủ công (năm 2010 là 12.536ha nhưng đến năm 2018 chỉ còn 9.103ha) và tăng diện tích sản xuất theo phương pháp công nghiệp, nhưng diện tích sản xuất công nghiệp vẫn thấp hơn nhiều so với diện tích sản xuất thủ công (năm 2010 là 2.570ha, tăng dần lên đến 4.313ha vào năm 2016 và giữ nguyên đến năm 2018).

Dù phương thức sản xuất có những điểm khác nhau (miền Bắc dùng phương pháp phơi cát; miền Trung và miền Nam dùng phương pháp phơi nước) nhưng cơ bản vẫn rất thô sơ nên muối làm ra vẫn lẫn nhiều tạp chất và không đạt độ khô cần thiết, dẫn tới tình trạng thừa muối thô nhưng lại thiếu muối chất lượng cao. Chính vì thế, hàng năm nước ta vẫn phải nhập khẩu trên dưới 100.000 tấn muối. Con số này gần như không thay đổi trong hàng chục năm qua: năm 2011, hạn ngạch thuế quan nhập khẩu muối là 102.000 tấn. Năm nay, 2020, hạn ngạch nhập khẩu thậm chí còn nhiều hơn: 110.000 tấn.

Và giá muối cũng vậy. Suốt gần 20 năm qua, hạt muối thô vẫn chưa vượt nổi mức giá 1.000 đồng/kg. Tháng 6/2020, giá muối thô đang ở mức khoảng 700 đồng/kg, muối sạch 1.100 đồng/kg. Mồ hôi và kể cả nước mắt của diêm dân vẫn rơi trên đồng muối mặn chát mỗi ngày hơn 10 tiếng, nhưng số tiền kiếm được cũng chỉ từ 100.000 – 200.000 đồng.

Nhiều cơ chế ưu tiên, hiệu quả chẳng bao nhiêu

Xuất phát từ đặc thù của ngành muối (cần diện tích đất lớn), Luật Đất đai 2013 đã quy định, đất làm muối được xác định là một phân nhóm riêng trong hệ thống các loại đất, được quy định để thống kê và quản lý trong nhóm đất nông nghiệp, được Nhà nước giao, cho thuê thu tiền thuê đất hàng năm đối với tổ chức kinh tế, hộ gia đình, cá nhân để sản xuất muối. Những vùng đất làm muối có năng suất, chất lượng cao được bảo vệ và ưu tiên cho việc sản xuất muối; nhà nước giao đất không thu tiền cho các hộ gia đình, cá nhân trực tiếp tham gia làm muối, cho các tổ chức sử dụng đất vào mục đích nghiên cứu, thí nghiệm, thực nghiệm nhằm phát triển nghề muối.

Đây là yếu tố rất thuận lợi cho công tác quản lý đất làm muối. Tuy nhiên, trong những năm qua, do nhu cầu sử dụng đất cho các ngành rất lớn, đặc biệt là việc khai thác quỹ đất cho phát triển kinh tế biển đã lấy đi một diện tích không nhỏ đất sản xuất muối, làm phá vỡ quy hoạch, phá vỡ hệ thống thủy lợi và hạ tầng kỹ thuật của khu vực đồng muối. Trong khi đó, do giá trị hàng hóa của sản phẩm muối khá thấp, không đóng góp được nhiều cho ngân sách nên các địa phương thường không quan tâm dành quỹ đất cho sản xuất muối, thậm chí một số địa phương còn thu hồi đất làm muối để sử dụng cho mục đích khác.

Một thực tế đáng nói khác là mặc dù biết rõ sức cạnh tranh của hạt muối Việt Nam phụ thuộc lớn vào khoa học công nghệ, nhưng nhìn chung việc thi hành các chính sách hỗ trợ các dự án phát triển khoa học công nghệ và đào tạo ngành muối còn rất hạn chế; đầu tư cho nghiên cứu khoa học còn chưa được chú trọng, chưa hình thành được các tổ chức nghiên cứu khoa học công nghệ chuyên ngành muối.

Mặt khác, nhiều năm qua, tín dụng ngân hàng đối với ngành diêm nghiệp vẫn còn nhiều vướng mắc. Nguồn vốn huy động tại chỗ ở một số địa phương chưa đủ để đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng trên địa bàn. Do hiệu quả sản xuất kinh doanh muối còn thấp, việc cho vay đối với doanh nghiệp sản xuất, chế biến, kinh doanh muối cũng gặp nhiều khó khăn. Cũng phải nói thêm rằng tỷ lệ nợ xấu, nợ quá hạn cao hơn mức bình quân (chiếm 5,12% tổng dư nợ cho vay ngành muối) cũng khiến các tổ chức tín dụng thận trọng trong việc mở rộng cho vay phát triển sản xuất muối.

Bên cạnh đó, cũng như rất nhiều loại nông sản khác, muối cũng chịu chung tình cảnh được mùa mất giá. Việc cân đối giữa vai trò điều tiết của Nhà nước về bình ổn giá muối, ổn định đời sống người dân làm muối và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vẫn là một bài toán khó được đặt ra từ vụ này sang vụ khác mà chưa có lời giải thỏa đáng.

Sẽ không còn “lưới đỡ”

Theo ông Lê Văn Thịnh, Cục trưởng Cục Kinh tế hợp tác và Phát triển Nông thôn (BộNN&PTNT), trong bối cảnh sức cạnh tranh của hạt muối Việt vẫn còn yếu, người làm muối cực nhọc mà không được trả công xứng đáng, thì tới đây, hạn ngạch nhập khẩu muối - một “lưới đỡ” bảo vệ hạt muối trong nước – lại không còn nữa theo các điều khoản cam kết khi gia nhập Tổ chức WTO. Hạt muối Việt sẽ phải cạnh tranh sòng phẳng với muối nhập. Điều đó có nghĩa là không thể kéo dài mãi tình trạng năng suất lao động thấp, giá thành sản xuất cao của phần lớn diện tích và sản lượng như hiện nay. Nói cách khác, trong việc tiêu thụ muối, chỉ có thể trông cậy vào khách hàng – thượng đế. Họ có thể vì tinh thần dân tộc mà ưu tiên sử dụng muối sản xuất trong nước, nhưng chỉ khi chất lượng và giá thành của muối nội cũng phải tương đương hàng ngoại, đặc biệt là với những khách hàng tiêu thụ muối số lượng lớn để sản xuất hóa chất và chế biến thực phẩm.

Tác động của biến đổi khí hậu và phát triển kinh tế - xã hội đối với lĩnh vực sản xuất, chế biến muối được dự báo là sẽ rất lớn, cần được xem xét thỏa đáng. Sự gia tăng các hiện tượng thời tiết bất thường như mưa, bão trái mùa, lũ lụt, triều cường… với tần suất và cường độ ngày càng lớn là những yếu tố có tác động tiêu cực. Đáng lưu ý, hầu hết đồng muối đều ở các khu vực sát biển, ở các vùng đất thấp nên thường bị ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng, có khả năng bị ngập, phần lớn cơ sở hạ tầng sản xuất muối như hệ thống thủy lợi, đường đi lại nội đồng nguy cơ bị phá hủy… Phát triển du lịch biển và giao thông ven biển cũng là những yếu tố cần có sự khảo sát, đánh giá và quy hoạch để đảm bảo phát triển tổng thể kinh tế - xã hội của cả nước.

Cuối cùng, trong khi người sản xuất là yếu tố quyết định chất lượng, thì giá thành lại không hoàn toàn do họ. Khâu thu mua, vận tải không được tổ chức tốt là nguyên nhân quan trọng làm đội chi phí, giảm sút sức cạnh tranh.

Rõ ràng, có quá nhiều việc phải làm một cách toàn diện, đồng bộ mới có thể nâng cao được hiệu quả của nghề muối – không chỉ là một ngành sản xuất, mà còn là một di sản phi vật thể quý giá của một quốc gia biển với hàng ngàn năm lịch sử.

CẨM HÀ

 

;
.
.
.
.