Bài học lớn từ những trang trại nhỏ - Nông Thôn Việt

Bài học lớn từ những trang trại nhỏ

Thứ Bảy, 07/11/2020, 10:25 [GMT+7]

Đại dịch Covid-19 đã làm thế giới nhận ra rằng công nghiệp hóa nông nghiệp và toàn cầu hóa đối với chuỗi cung ứng thực phẩm bên cạnh ưu điểm là cung cấp thực phẩm với giá thành rẻ cho nhu cầu trong nước và thậm chí toàn cầu, cũng bộc lộ những nhược điểm nhất định đối với môi trường, nhân công và an ninh lương thực. Chính những nhược điểm này đã khiến nhiều người một lần nữa phải chú ý tới lợi ích của các trang trại nhỏ và nông sản được sản xuất tại địa phương.

 

Thế giới một lần nữa lại chú ý đến các trang trại nhỏ và nông sản được sản xuất tại địa phương.
Thế giới một lần nữa lại chú ý đến các trang trại nhỏ và nông sản được sản xuất tại địa phương.
 Nông dân sản xuất trên các mảnh đất quy mô nhỏ, cung ứng cho thị trường địa phương là điều thường thấy ở các nước đang phát triển. Dù nó mang lại nhiều lợi ích nhưng cách thức sản xuất này thường bị hiểu là sẽ dẫn đến tình trạng thu nhập thấp và thậm chí là nghèo đói ở một số quốc gia. Tuy nhiên, điều này không phải lúc nào cũng đúng.

Đã có nhiều sáng kiến thành công trong việc giúp nông dân nâng cao năng suất và thu nhập, củng cố cộng đồng sản xuất và bắt đầu bằng các hình thức kinh doanh nhỏ lẻ. Điều quan trọng là tất cả những sáng kiến này đều được thực hiện trên cơ sở tạo dựng một môi trường bền vững nhằm tăng khả năng chống chịu với các cú sốc từ bên ngoài, bao gồm cả biến đổi khí hậu và thậm chí cả đại dịch. Ông Edd Wright, Giám đốc Khu vực Đông Nam Á của tổ chức World Neighbors cho biết: “Tại Đông Timor, để kiểm soát sự lây lan của Covid-19, chính phủ đã áp dụng tình trạng khẩn cấp, bao gồm việc đóng cửa tất cả các chợ - nơi mọi người thường mua sắm hàng hóa cơ bản. Đối mặt với tình trạng này, những người nông dân sản xuất quy mô nhỏ vẫn tiếp tục có nguồn cung cấp lương thực đảm bảo vì họ chủ yếu sống bằng những gì trồng trên đất của mình”. Các chương trình phát triển toàn diện dựa vào cộng đồng sản xuất quy mô nhỏ cũng bao gồm cải thiện sức khỏe và vệ sinh môi trường, dạy chữ và đào tạo các nhà lãnh đạo địa phương. Các nhà lãnh đạo này sẽ trở thành những người lập kế hoạch và vận động cho sự phát triển cộng đồng của mình.

Thành công của các cộng đồng nông dân ở Nepal, Ấn Độ, Đông Phi, Tây Phi, Guatemala, Peru, Burkina Faso và một số quốc gia khác là bài học kinh nghiệm cho những quốc gia có ý định thiết lập mô hình trang trại nhỏ nhằm đảm bảo an ninh lương thực. Do Christophe Ouattara, cán bộ cấp cao của World Neighbors tại Tây Phi, cho biết: “Các nhà sản xuất nông nghiệp quy mô nhỏ có khả năng đổi mới cực kỳ mạnh mẽ. Ở Burkina Faso, các kỹ thuật bảo tồn đất, nước đã giúp cải thiện sản xuất và đóng góp đáng kể vào an ninh lương thực”. Mặc dù câu chuyện thành công của mỗi cộng đồng là khác nhau, nhưng chúng có một số điểm chung cơ bản như sau:

1. Phương pháp hữu cơ. Rau, trái cây, trứng và thịt được sản xuất theo phương pháp hữu cơ sẽ tốt cho sức khỏe người dùng hơn do không sử dụng thuốc trừ sâu và các hóa chất. Phương pháp này cũng an toàn hơn cho người nông dân trong quá trình sản xuất vì không phải tiếp xúc và xử lý các hóa chất nguy hiểm. Cuối cùng, sản xuất hữu cơ ít tác động lên môi trường.

Đối với các trang trại nhỏ, lợi thế của nông nghiệp hữu cơ là rõ ràng - lợi nhuận cao hơn. Thay thế hóa chất bằng thuốc trừ sâu và phân bón hữu cơ có thể giảm đáng kể chi phí. Đồng thời, người tiêu dùng cũng sẵn sàng trả tiền nhiều hơn để tiêu thụ các thực phẩm hữu cơ, có quy trình sản xuất thân thiện với môi trường. Binu Subedi, nhà vận động xã hội cao cấp của World Neighbors tại Nepal nhận định: “Khi sản xuất nông nghiệp theo phương pháp hữu cơ, không có thứ gọi là “chất thải”. Tìm cách sử dụng phụ phẩm nông nghiệp là cách dễ nhất để cắt giảm chi phí đầu vào và tăng lợi nhuận”.

2. Hợp tác xã. Có rất nhiều hợp tác xã thành công ở Mỹ và các nước khác. Bằng cách liên kết với nhau, nông dân sản xuất quy mô nhỏ loại bỏ bớt những khâu trung gian. Các hợp tác xã cũng giúp nông dân có nguồn lực đầu tư vào tiếp thị, đưa tiếng nói của nông dân đến chính phủ, đồng thời giúp họ thực hiện các hoạt động nhằm xây dựng thị trường và tăng doanh số bán hàng.

HTX đặc biệt hữu ích - thậm chí cần thiết - ở các quốc gia nơi sản xuất nông nghiệp bị chi phối bởi một số ít công ty. Đại dịch Covid-19 đã làm nổi bật thực tế trên đối với ngành chế biến thịt của Mỹ, nơi mà một số ít các công ty xuyên quốc gia chiếm thế độc quyền trong ngành. Khi công nhân chế biến thịt phải nghỉ làm vì nhiễm Covid-19, sản lượng thịt giảm, dẫn đến giá thịt tăng. Lúc này chi phí mà các doanh nghiệp phải trả cho nhân công và người chăn nuôi giảm đi. Còn lợi nhuận tăng lên do giá bán thịt tăng thì lại nghiễm nhiên vào túi các công ty này.

Các trang trại chăn nuôi quy mô nhỏ cũng như các nhà máy chế biến được tổ chức thành các HTX có thể giúp giải quyết vấn đề đó. Mặc dù thịt và các sản phẩm từ thịt khi đến tay người dùng có thể đắt hơn một chút, nhưng chúng ít có khả năng bị nhiễm vi khuẩn E.coli, salmonella hoặc các chất gây hại khác. Ngoài ra, các nhà máy chế biến nhỏ hơn có xu hướng an toàn hơn và ít tác động đến môi trường.

Các HTX thành công ở Kenya và các nước đang phát triển khác có rất nhiều điều cho chúng ta học hỏi, bao gồm cả cách tạo ra vốn vay thông qua các nhóm tiết kiệm và tín dụng. Các HTX này gom tiền tiết kiệm của nông dân rồi cho các thành viên vay với lãi suất rất thấp. Việc này giúp nông dân dễ tiếp cận vốn vay hơn, và nếu nông dân thất bại thì các HTX cũng cho họ thời gian tương đối dài để trả nợ. Các nhóm tiết kiệm và tín dụng thường là bước đầu tiên dẫn đến các mối quan hệ hợp tác lớn và toàn diện.

3. Giống di sản. Chăn nuôi công nghiệp đã tạo ra các loại nông sản đồng nhất và hấp dẫn với giá thành rẻ, nhưng đồng thời nó cũng làm suy giảm số lượng giống. Thực tế là trong hầu hết các cửa hàng ở Mỹ hiện nay, có tương đối ít loại trái cây hoặc rau củ và những loại này có xu hướng có ít chất dinh dưỡng và hương vị hơn các giống được trồng trước khi canh tác công nghiệp thống trị. Điều này cũng đúng với thịt, gà và gà tây nuôi tại nhà máy đều không có hương vị bằng các giống gà truyền thống.

Mong muốn có nhiều chủng loại, hương vị và dinh dưỡng hơn là lý do khiến nhiều người tiêu dùng đang dần quay lại với các giống di sản hoặc gia truyền được sản xuất tại các trang trại nhỏ, sản xuất theo phương pháp hữu cơ. Những sản phẩm này thường có mặt tại các nhà hàng cao cấp, chợ nông sản và siêu thị đặc sản. Giống như các nông sản hữu cơ, các sản phẩm từ các giống di sản mang lại lợi nhuận cao hơn cho các chủ trang trại nhỏ.

Hiện nay nhu cầu phát triển các giống di sản là đặc biệt cấp bách khi việc sử dụng các sản phẩm nông nghiệp sản xuất theo phương pháp công nghiệp không lành mạnh đã khiến nhiều căn bệnh mãn tính như bệnh tim, tiểu đường, béo phì… gia tăng theo cấp số nhân.

Toàn cầu hóa trong nông nghiệp - về mặt ý tưởng, hàng hóa, vốn và hợp tác - là một thành tựu quan trọng. Tuy vậy, nó cũng bao gồm những mặt trái do cách thức thực phẩm được sản xuất, vận chuyển và tiêu thụ trên quy mô lớn. Nhưng, điều thú vị là những mặt trái này lại được giải quyết tốt nhất nhờ tăng cường toàn cầu hóa nhiều hơn nữa. Cụ thể, nông dân sản xuất nhỏ ở các nước đang phát triển sẽ chia sẻ những đổi mới của họ với nông dân ở các nước phát triển để cùng nhau cải thiện thu nhập, sức khỏe và an ninh lương thực một cách bền vững và có trách nhiệm.

KIM NHÃ theo foodtank

 

;
.
.
.
.