Lấy thuận thiên làm đầu - Nông Thôn Việt

Lấy thuận thiên làm đầu

Thứ Hai, 07/09/2020, 14:04 [GMT+7]

Tại Hội nghị giải trình về "An ninh nguồn nước phục vụ sản xuất, sinh hoạt và quản lý an toàn hồ, đập" được Ủy ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường (KH-CN-MT) của Quốc hội tổ chức tại Nhà Quốc hội vào trung tuần tháng 8 vừa qua, nhiều người đã phải giật mình trước một số số liệu được công bố. Và không nghi ngờ gì nữa, đã đến lúc phải bỏ ngay lối nghĩ tài nguyên nước là một thứ của trời cho, miễn phí và có thể dùng bao nhiêu tùy ý.

 

Thay mặt Đoàn giám sát báo cáo tại phiên họp, Phó Chủ nhiệm Ủy ban KH-CN-MT Nguyễn Vinh Hà cho biết, bên cạnh các cuộc làm việc với các bộ ngành, trong tháng 07/2020, Ủy ban này đã tổ chức 2 đợt khảo sát tại 14 tỉnh, thành phố tiêu biểu cho các khu vực Bắc Trung bộ; duyên hải Miền Trung; Nam Trung bộ; Đồng bằng sông Cửu Long và Tây Bắc.

Kết quả cho thấy, trong khoảng 20 - 30 năm tới, nhiều tỉnh sẽ thiếu nước nghiêm trọng, đặc biệt là cho sản xuất nông nghiệp. Tỉnh Nghệ An hiện có 1.061 hồ chứa lớn, nhỏ với tổng dung tích 537 triệu m3 nhưng mới chỉ đảm nhiệm được 55% diện tích tưới; tỉnh Thanh Hóa có 610 hồ chứa thủy lợi, trong đó có hồ chứa lớn như Cửa Đạt, dung tích tới 793,7 triệu m3 nhưng chỉ đáp ứng được 70% diện tích tưới...

Riêng với các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long, thời gian gần đây, lượng mưa ít, lũ về chậm, mực nước lòng sông thấp nên lượng nước không đủ cho sinh hoạt, sản xuất và tưới cho cây trồng. Đợt hạn năm 2019 - 2020, mặn vào sâu tới đến 135km (trên sông Vàm Cỏ Tây, huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An), nồng độ mặn cao đến 18 phần ngàn, gây thiệt hại trên 1.600 tỷ đồng; tại tỉnh Kiên Giang cũng có 1.500ha bị nhiễm mặn.

Dễ dàng nhìn thấy là không thể “bắt sông chảy ngược, bắt núi cúi đầu” một cách duy ý chí. Không thể dựa vào yêu cầu phát triển kinh tế xã hội mà áp đặt vào quản lý, sử dụng tài nguyên nước. Việc quản lý tài nguyên nước nói riêng và quản lý tài nguyên thiên nhiên nói chung phải nương vào các quy luật tự nhiên, phù hợp với “vòng đời” của nước – nói theo cách người xưa là “thuận thiên”.

Nhất quán quan điểm này, cả hai vị thành viên Chính phủ tham gia hội nghị - Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Nguyễn Xuân Cường và Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà – có cùng đề nghị Quốc hội ban hành nghị quyết về giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước trên cơ sở đánh giá lại toàn diện các lưu vực sông, chủ động tạo ra những “kho” chứa nước tự nhiên để sử dụng vào mùa khô hạn. Chẳng hạn, với đồng bằng sông Cửu Long là vùng tứ giác Long Xuyên. “Tiếng là nhiều sông hồ, nhưng với khoảng 7.000 hồ lớn nhỏ, khả năng dự trữ nước của ta còn thua xa Nhật Bản (18.000 hồ), trong khi diện tích nước này lớn hơn ta không nhiều”, Bộ trưởng Nguyễn Xuân Cường dẫn chứng. Chính vì vậy mà các hồ chứa, bể chứa quy mô nhỏ cho các cụm dân cư, cơ sở sản xuất và gia đình cũng hết sức cần thiết. Đặc biệt, cần bảo vệ, phục hồi và nâng cao chất lượng cho thảm phủ thực vật, chú trọng việc mở rộng rừng đầu nguồn, rừng ngập mặn ven biển, đặc biệt là rừng đầu nguồn vùng Tây Bắc, Tây nguyên. Đây cũng là giải pháp góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính và tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu.

Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu nông nghiệp - dù đã bắt đầu nhiều năm nay - cần được đẩy nhanh hơn nữa theo hướng chuyển đổi trọng tâm từ lúa sang thủy sản, phù hợp với không gian sản xuất và thị trường. Về không gian sản xuất, dù nước lợ hay nước ngọt, người nông dân cũng có thể nuôi trồng thủy sản phù hợp nếu có các giải pháp thiết kế công trình thủy lợi linh hoạt để tận dụng tài nguyên nước dù ngọt hay mặn. Còn đối với thị trường, nhu cầu về lúa gạo của các đối tác tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như CPTPP hay EVFTA là không quá lớn, trong khi thủy sản lại luôn “đắt hàng” và chắc chắn còn nhiều dư địa phát triển (tất nhiên phải đảm bảo các quy chuẩn, tiêu chuẩn quốc tế).

Phó Chủ tịch Quốc hội Phùng Quốc Hiển - Thực hiện phương châm “4 tại chỗ”

Cần đặt ra mục tiêu đến năm 2045, khi nước ta trở thành một nước công nghiệp có trình độ phát triển trung bình, thì phải chủ động được nguồn nước ngọt, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước; bảo đảm chủ động tưới tiêu khoa học, hiện đại cho 100% diện tích canh tác; đủ nước cho công nghiệp và dịch vụ; đáp ứng nước sinh hoạt đạt tiêu chuẩn cho 115 - 120 triệu dân trong tương lai, cả ở thành thị và nông thôn, nhất là ở nông thôn cũng phải được sử dụng nước tốt như thành thị… Phải coi nước là hàng hóa đặc biệt, thực hiện nguyên tắc thị trường, từng bước tính đúng, tính đủ giá dịch vụ nước sản xuất và sinh hoạt. Đồng thời, thực hiện phương châm “4 tại chỗ”: sinh thủy tại chỗ; giữ nước tại chỗ; bảo vệ tại chỗ; điều hành, vận hành, phân phối tại chỗ.

Bộ trưởng Bộ NN&PTNT - Nguyễn Xuân Cường: Chuẩn bị đối phó với tác động vô cùng lớn và không thể đảo ngược

Cùng với khả năng chuyển nước, sự gia tăng sử dụng nước, kiểm soát nguồn nước tại các quốc gia thượng nguồn sẽ làm thay đổi mạnh nguồn nước sông Mê Kông. Chúng ta phải tiếp tục đấu tranh, kiến nghị ngoại giao để được cung cấp đầy đủ thông tin, cũng như được đảm bảo quyền lợi về nguồn nước. Theo số liệu của Ủy hội sông Mê Kông quốc tế, từ nay đến năm 2040, trên lưu vực sông Mê Kông, diện tích tưới tại các quốc gia thượng nguồn sẽ tăng từ 2 -3 lần. Trong khi đó, trong khoảng hơn 30 năm từ 1973 - 2009, diện tích rừng tại các quốc gia tiểu vùng Mê Kông giảm đến 31%; tác động làm suy giảm dòng chảy mùa cạn, gia tăng dòng chảy mùa lũ trên lưu vực sông. Ngoài ra, khi các công trình thủy điện trên dòng chính sông Mê Kông hoàn thành xây dựng, đi vào vận hành sẽ có tác động bất lợi vô cùng lớn, không thể đảo ngược đối với chế độ dòng chảy, phù sa, chất dinh dưỡng, môi trường, sinh kế… của người dân vùng ĐBSCL. Dự kiến lượng phù sa về ĐBSCL có thể giảm 97% ở thời điểm năm 2040.

Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường Trần Hồng Hà: Giảm sự phụ thuộc vào nguồn nước xuyên biên giới

Trong bối cảnh dân số ngày càng gia tăng, trong đó 2/3 dân số của Việt Nam sinh sống tại ba lưu vực sông lớn: Hồng-Thái Bình, đồng bằng sông Cửu Long và Đồng Nai, nhu cầu khai thác sử dụng nước của người dân ở các khu đô thị sẽ tăng gấp đôi, tổng nhu cầu về nước vào mùa khô của Việt Nam sẽ gia tăng 32% vào năm 2030, căng thẳng nước sẽ xảy ra nghiêm trọng tại các lưu vực kinh tế trọng điểm. Hợp tác trong chia sẻ nguồn nước tiếp tục là vấn đề thách thức. Hoạt động khai thác nước tại khu vực thượng nguồn sẽ ngày một gia tăng và chia sẻ nguồn nước có thể là vấn đề các nước sử dụng để đàm phán đổi lại các lợi ích. Cần giảm sự phụ thuộc vào nước ngoài đối với các nguồn nước xuyên biên giới; đẩy mạnh các giải pháp giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu đến tài nguyên nước.

 

BẢO VÂN 

;
.
.
.
.