Nghị Định 40/2019/ NĐ-CP - 'khúc xương' khó nuốt - Nông Thôn Việt

Nghị Định 40/2019/ NĐ-CP - 'khúc xương' khó nuốt

Thứ Ba, 08/09/2020, 10:16 [GMT+7]

LTS: Theo kế hoạch dự kiến, trong kỳ họp cuối năm 2020, Quốc hội sẽ thông qua Luật Bảo vệ Môi trường sửa đổi. Tạp chí Nông thôn Việt số này xin đăng bài viết của TS Tô Văn Trường về Nghị định 40/2019/ NĐ-CP ban hành ngày 13/5/2019 sửa đổi, bổ sung một số điều của các nghị định quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ Môi trường. Theo tác giả, đây là “khúc xương” khó nuốt, phải được sửa đổi vì có quá nhiều quy định bất cập, rắc rối theo kiểu “hành là chính”, không khả thi nên cũng không hiệu quả về mặt quản lý.

 

Khu vực xử lý nước thải.
Khu vực xử lý nước thải.

Sau vụ việc Formosa tại Hà Tĩnh, Bộ Tài nguyên – Môi trường (TNMT) đưa ra quy định buộc tất cả các hệ thống xử lý nước thải phải có hồ sự cố dung tích đủ lưu trữ nước thải 3 ngày, coi như đây là biện pháp duy nhất phòng ngừa sự cố ô nhiễm. Ngay từ đầu đã có nhiều ý kiến cho rằng quy định này không ổn, nhất là trong điều kiện Việt Nam eo hẹp về quỹ đất. Sau đó phản hồi từ Bộ TNMT cho rằng, đây chỉ là giải pháp khuyến khích. Phương án phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường đối với loại hình công nghiệp có nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường cao là phải có, nhưng doanh nghiệp được quyền lựa chọn. Trên thực tế, qui định mập mờ này đã làm khốn khổ/tốn kém không biết bao nhiêu cho doanh nghiệp.

Hiện nay, trong Nghị định 40/2019/NĐ-CP (NĐ40) có quy định hồ điều hòa kết hợp hồ sự cố. Vấn đề bắt buộc quy trình xử lý nước thải phải có hồ điều hòa vốn đã gây ra rất nhiều hệ luỵ về pháp lý và kỹ thuật, khiến nhiều doanh nghiệp bế tắc, không thể triển khai dự án được. Có ý kiến cho rằng hồ sự cố phải là hồ trống để đảm bảo khi có sự cố thì nước phải dẫn về đây, vì vậy nên có thể hiểu hồ này phải độc lập với hệ thống hoặc nếu có thể kết hợp thì chỉ có thể kết hợp với hồ điều hòa (nâng sức chứa của hồ điều hòa). Hồ sinh học thông thường là công trình cuối của hệ thống, nước sau xử lý được dẫn về đây trước khi thoát ra môi trường. Tuy nhiên, do thiết kế hồ này thường nông (-1,5m đến -2m) nên rêu tảo rất dễ phát triển, từ đó ảnh hưởng đến các chỉ tiêu lý hóa sinh của nước trong hồ. Điều này dẫn đến nước sau xử lý đạt tiêu chuẩn nhưng khi dẫn ra hồ này chứa trong 3 ngày thì nhiều chỉ tiêu có thể lại không đạt theo yêu cầu. Để đáp ứng các yêu cầu này, nhiều nhà máy/dự án chạy đua để tìm các giải pháp như (lắp hệ thống ozon để diệt tảo, lắp máy diệt tảo (máy này có đơn vị độc quyền cung cấp). Nay kết hợp 2 hồ này thành một sẽ trở thành thảm họa về giải pháp kỹ thuật vì nước sau xử lý và nước chưa xử lý cùng dẫn chung vào một hồ, sau đó được bơm ngược về hệ thống và nước sau xử lý lại dẫn tiếp vào hồ này. Đây là bất cập rất sơ đẳng nhưng qua bao nhiêu cấp xét duyệt, không hiểu sao vẫn được đưa vào NĐ40?

Theo tôi, hồ điều hòa phải thiết kế chia ngăn, trong đó ít nhất phải có 1 ngăn luôn để trống; và 1 ngăn có bơm xả khẩn cấp nước đã xử lý ra bên ngoài trong trường hợp xảy ra sự cố. Hồ điều hòa vẫn có đường thoát nước ra ngoài khi nước đạt đến ngưỡng thiết kế. Vì vậy, khó có chuyện hồ chứa nước đọng 3 ngày trong điều kiện bình thường. Tuy nhiên, hiện tượng nước trong hồ điều hòa có thể có thông số ô nhiễm không đạt yêu cầu thường là do chất bẩn trên bờ theo nước mưa chảy vào hồ, đặc biệt tại một số khu công nghiệp để cho trâu bò vào ăn cỏ cạnh hồ.

Một vấn đề nhức nhối khác là NĐ40 không chỉ yêu cầu lập lại ĐTM (đánh giá tác động môi trường) đối với doanh nghiệp có nhập khẩu phế liệu chưa có ĐTM của Bộ TNMT, mà các đơn vị này sau khi khi lập lại ĐTM còn phải làm thêm công tác vận hành thử nghiệm và xác nhận hoàn thành các công trình bảo vệ môi trường cấp Bộ mới được xem xét cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện bảo vệ môi trường trong nhập khẩu phế liệu. Quá trình này phải trải qua 3 tháng vận hành thử nghiệm với 12 lần đo, trong đó 5 đợt đầu cách nhau ít nhất là 15 ngày, sau đó 7 ngày đo liên tục. Các doanh nghiệp đang kêu trời vì quy định này bởi trước đó hệ thống của họ đã được cấp xác nhận hoàn thành cấp tỉnh, cũng đã trải qua quá trình vận hành thử nghiệm và đánh giá hiệu quả xử lý của cơ quan chức năng (sau khi phê duyệt ĐTM cấp Bộ cũng không bổ sung thêm yêu cầu gì khác)... nay cũng làm lại tương tự, lần này lại giao cho Sở TNMT giám sát. Đối với nhiều doanh nghiệp thì chi phí lấy mẫu tổ hợp trong quá trình vận hành thử nghiệm này thực sự là một gánh nặng do đến hàng tỷ đồng, thời gian tốn khoảng 4 tháng cho cả đo đạc và phân tích, nhưng sau đó không biết Bộ sẽ rút thêm ra được điều gì tốt hơn các kết quả đo đạc trước đó trong khi toàn bộ các đơn vị đo đạc đều phải có Vimcert do Bộ TNMT cấp?

Ngoài các vấn đề bất cập được nêu ở trên, xin kiến nghị cụ thể các điểm cần phải sửa như sau:

Khi Nghị định 40/2019- NĐ-CP được ban hành vào tháng 05/2019, trong tất cả các văn bản đều không có khái niệm “Mẫu tổ hợp”. Đến tận tháng 12/2019, Bộ TNMT mới ban hành Thông tư 25 hướng dẫn thực hiện NĐ40, trong đó có hướng dẫn thế nào là “Mẫu tổ hợp”. 6 tháng trời là khoảng thời gian đình trệ trong việc kiểm tra các công trình thử nghiệm, không có cơ sở nào trên toàn quốc “được” kiểm tra xác nhận để đi vào sản xuất chính thức, tốn kém thiệt hại vô cùng lớn cho các doanh nghiệp. Chưa kể, qui định trong Thông tư 25 về “mẫu tổ hợp” là không có cơ sở khoa học và thực tiễn. Nghị định 40 qui định lấy mẫu tổ hợp để “đánh giá hiệu quả trong từng công đoạn xử lý”, còn Thông tư 25 qui định tần suất lấy mẫu… là những qui định phi lý, can thiệp vào nội bộ qui trình công nghệ sản xuất, gây cực kỳ tốn kém không cần thiết cho doanh nghiệp, không có nước nào trên thế giới làm như vậy. Luật quy định doanh nghiệp chịu trách nhiệm với đầu ra của chất thải của mình xả ra môi trường, còn từng công đoạn là việc nội bộ, miễn sao đạt quy chuẩn đầu ra. Tại sao lại bắt doanh nghiệp đánh giá hiệu quả trong từng công đoạn xử lý?

Yêu cầu “phải có hồ sơ hoàn công công trình xử lý chất thải đã được bàn giao, nghiệm thu theo quy định của pháp luật về xây dựng” cũng gây lúng túng cho cả doanh nghiệp và đoàn kiểm tra bởi pháp luật về xây dựng không có khái niệm hoàn công mà chỉ có công trình thuộc đối tượng kiểm tra công tác nghiệm thu. Hồ sơ hoàn công chỉ là hồ sơ giữa chủ dự án và đơn vị thiết kế xây dựng, vậy có sử dụng được không? Tại sao lại yêu cầu hồ sơ hoàn công, một tài liệu kỹ thuật chi tiết về xây dựng khi kiểm tra các công trình môi trường trong khi việc này không thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý môi trường, các cán bộ quản lý môi trường cũng không có trách nhiệm và cũng không có trình độ để đọc và hiểu về nó, vậy thì quy định để làm gì?

Việc quy định đối tượng lắp các trạm quan trắc nước thải tự động bao gồm: “Cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ thuộc loại hình sản xuất có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường quy định tại Phụ lục IIa Mục I Phụ lục ban hành kèm theo Nghị định này và có quy mô xả thải từ 500 m3/ngày (24 giờ) trở lên tính theo công suất thiết kế của hệ thống xử lý nước thải; Cơ sở xử lý chất thải nguy hại, cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung quy mô cấp tỉnh và cơ sở sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất có phát sinh nước thải công nghiệp hoặc nước rỉ rác ra môi trường, thuộc đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường;và các đối tượng khác do UBND cấp tỉnh quyết định” là quá rộng, trong khi thiết bị quan trắc tự động liên tục tương đối đắt tiền (tại các nước phát triển cũng không quy định như vậy vì quá đắt đỏ), gây tốn kém không cần thiết cho doanh nghiệp. Theo quy định này, cơ sở xử lý chất thải nguy hại nào cũng phải tốn tiền tỷ để lắp hệ thống quan trắc tự động trong khi nhiều cơ sở số lượng nước thải không nhiều? Tương tự như vậy đối với các cơ sở sử dụng phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất kể cả ở mức phải có ĐTM, có phải cơ sở nào cũng nhiều nước thải đến mức phải lắp hệ thống quan trắc tự động? Quy định các “đối tượng khác do UBND cấp tỉnh quyết định” là tạo một sự tùy tiện ở cấp địa phương, cũng lại gây khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp.

Thực tế, không chỉ Nghị định 40 của Chính phủ mà ngay cả Thông tư 25 của Bộ TNMT cũng có rất nhiều quy định bất cập, rắc rối theo kiểu “hành là chính”, không khả thi nên cũng không hiệu quả về mặt quản lý. Các doanh nghiệp đã chịu đựng gần 2 năm rồi, cần cố gắng chờ thêm vài tháng nữa, đến phiên họp cuối năm nay của Quốc hội khi thảo luận ban hành Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi, tôi tin rằng sẽ có nhiều thay đổi như trong bản góp ý này.

 

Lời kết

Đất nước muốn phát triển bền vững về kinh tế xã hội thì cơ chế chính sách phải là bệ đỡ, thông thoáng, hỗ trợ đắc lực cho các doanh nghiệp hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Nghị định 40/2019 đúng là “khúc xương” khó nuốt, phải sửa đổi vì có rất nhiều quy định bất cập, rắc rối theo kiểu “hành là chính”, không khả thi nên cũng không hiệu quả về mặt quản lý.

 

Khi chúng tôi đang dàn bài báo này thì tác giả có gởi lời nhắn: “Bộ trưởng TNMT Trần Hồng Hà đã gọi cho điện cho biết Nghị định 40 về hồ sự cố (chủ yếu áp dụng cho trường hợp Formosa) không bắt buộc cho tất cả các các trường hợp khác. Tuy nhiên Bộ cần có giải pháp KHCN và cơ sở pháp lý để các doanh nghiệp phải chủ động thực hiện việc xử lý chất thải theo quy định của pháp luật. Bộ TNMT sẽ trình Quốc hội trong bản sửa Luật Bảo vệ môi trường để đảm bảo song song với phát triển kinh tế là các biện pháp bảo vệ môi trường”.

 

TS. TÔ VĂN TRƯỜNG

;
.
.
.
.