Cà phê Việt Nam và sự nghịch lý đắng chát - Nông Thôn Việt

Cà phê Việt Nam và sự nghịch lý đắng chát

Thứ Sáu, 16/03/2018, 09:49 [GMT+7]

Nếu vào một quán tầm tầm bậc trung ở Sài Gòn và gọi một ly cappuccino hay latte, giá thấp nhất cũng 35.000 đồng. Đây là mức giá không hề rẻ chút nào. Tuy nhiên, đời sống của đại bộ phận nông dân trồng cà phê ở Việt Nam nói chung và Tây Nguyên - thủ phủ cà phê với 90% diện tích và sản lượng cả nước, nói riêng, hiện lại khá bấp bênh.

Sự nghịch lí cứ tồn tại bất chấp Việt Nam là nước trồng và xuất khẩu cà phê đứng thứ nhì thế giới. Cùng với đó, đây cũng là loại nông sản mang lại giá trị hàng tỉ đô la cho đất nước.

Lời cảnh báo từ thiên nhiên

Cuối 2015 và những tháng đầu 2016, nếu có dịp đi ngang vùng đất Tây Nguyên, sẽ không khó bắt gặp cảnh cây cà phê bị chết khô. Cơn hạn dữ dội nhất trong vòng mấy mươi năm thật sự đã biến nơi đây thành vùng “đất khát”. Có chứng kiến cảnh người nông dân phải bỏ biết bao công sức lẫn tiền của để chăm sóc cho cây cà phê trong nhiều năm, nhưng rồi phải bặm chặt môi vung những nhát rựa đầy phẫn uất vào thân cây khô cứng, rồi gom và châm lửa đốt, mới hiểu được nỗi chua xót của họ.

Nông dân đang thu hoạch cà phê, họ là người vất vả nhất nhưng lại nhận phần bèo bọt nhất trong chuỗi giá trị của loại nông sản này.
Nông dân đang thu hoạch cà phê, họ là người vất vả nhất nhưng lại nhận phần bèo bọt nhất trong chuỗi giá trị của loại nông sản này.

Khi đó, ngành chức năng thống kê tỉnh Đăk Lăk có gần 4.400 ha cà phê bị mất trắng do hạn hán. Con số này ở tỉnh Đăk Nông là gần 5.000 ha, Gia Lai là gần 400 ha, Lâm Đồng hơn 160 ha… Tính tổng thể, khu vực Tây Nguyên có đến hơn 115.000 ha cà phê bị thiếu nước tưới. Tuy nhiên, đó chưa phải là tất cả, bởi trong số diện tích trên 583.800 ha cà phê của toàn vùng, có đến 80% là không chủ động được nguồn nước tưới.

Thế nhưng hiện nay, người ta vẫn cứ tái canh hoặc ghép cải tạo trên nền những khu vườn cũ. Gần như chưa có động thái quyết liệt nào trong việc phải phân bổ lại cây cà phê cho phù hợp với sự nóng lên toàn cầu. Cần lưu ý, trong thời gian bức bách của cơn hạn dữ, đã có hàng ngàn mũi khoan được chọc xuống lòng đất để tìm nước. Hành động nhất thời này đã được các chuyên gia khuyến cáo rằng sẽ khiến tầng nước ngầm bị sụt giảm. Chẳng những vậy, không ít nông dân nơi đây vẫn có thói quen lãng phí dù thiếu thốn, dùng từ 700-1.000 lít nước để tưới cho cây, trong khi chỉ cần 300-400 lít nước là có thể cho ra sản lượng cà phê tương đương.

Những cơn hạn khốc liệt sẽ không còn là thứ hiếm. Cảnh tái canh, rồi hạn hán, rồi chặt, rồi lại tái canh… cứ như một vòng luẩn quẩn có thể thấy trước. Và cứ mỗi chu kì như vậy, chắc chắn rằng sẽ gây nên sự xáo trộn không hề nhỏ cho thứ gọi là vùng nguyên liệu. Liệu rằng, ngành cà phê có phát triển bền vững được khi mà vùng nguyên liệu không có sự ổn định? Ngay cả cái tham vọng nâng giá trị gia tăng và kim ngạch xuất khẩu đến năm 2030 lên khoảng 6 tỉ USD cũng khó mà thành hiện thực.

Có tiếng mà không có miếng

Việt Nam là nước sản xuất và xuất khẩu cà phê đứng thứ nhì thế giới. Tuy nhiên, có lẽ chỉ giới mua bán loại nông sản này mới biết điều đó. Còn người thưởng thức, mỗi khi nâng tách cà phê lên, ngửi mùi thơm quyến rũ của nó, họ vẫn cứ đinh ninh rằng nó đến từ Brazil hay Colombia. Việc xuất thô đến 90% sản lượng ra thị trường thế giới khiến cà phê Việt Nam không xây dựng được thương hiệu. Dĩ nhiên, giá trị giữa chế biến sâu và thô là một trời một vực. Không khó hiểu khi đời sống của người trồng cà phê Việt Nam vẫn khá cơ cực. Rất nhiều người trong số họ dù mang tiếng là người làm ra hạt cà phê, song lại chưa hề biết hương vị của một ly espresso hay cappuccino là như thế nào. Chỉ đơn giản, chúng quá đắt!

Các doanh nghiệp Việt dường như chỉ thích sự dễ dàng hơn là đầu tư công sức lẫn tiền của để nâng tầm cho một loại nông sản nào đó của nước nhà. Đã rất nhiều năm trôi qua, họ vẫn hài lòng với việc mua bán kiểu sang tay kiếm lời. Để rồi hạt cà phê Việt Nam phải qua bàn tay hay công nghệ chế biến từ nước khác mới đến được với người thưởng thức. Sự “ẩn mình” trong lớp áo của người khác khiến cà phê Việt Nam không có được vinh quang tương xứng.

Nhận phần bèo bọt nhất trong chuỗi giá trị mà hương vị cà phê mang lại, thêm vào đó, với những khắc nghiệt của thời tiết trong quá trình canh tác, nông dân Việt Nam ở thì tương lai liệu còn gắn bó với loại cây này? Nếu không có một chiến lược bài bản nhằm hướng đến sự ổn định bền vững, vị thế thứ nhì về sản xuất và xuất khẩu-dù chỉ là mặt hàng thô của ngành cà phê Việt cũng khó để duy trì.

Nhìn sang Colombia, họ có một Liên đoàn cà phê (Federación Nacional de Cafeteros de Colombia-FNC) hoạt động đầy tích cực và hiệu quả. FNC sẽ đảm bảo một mức giá có lợi cho người trồng cà phê Colombia thông qua việc xâm nhập vào thị trường, tìm kiếm thị trường tiềm năng, bảo hộ nguồn gốc cho cà phê Colombia (với chiến dịch tiếp thị nổi tiếng Juan Valdez).

Qua đó, FNC trở thành một chỗ dựa vững chắc cho người trồng cà phê Colombia trước các biến động của thị trường quốc tế, đảm bảo lợi nhuận cho nông dân nước này. Chẳng những vậy, thông qua bộ phận nghiên cứu kĩ thuật, FNC sẽ hỗ trợ người trồng cà phê Colombia về các mặt sản xuất như quản lý đất, kĩ thuật chế biến, lựa chọn giống, ngăn ngừa và điều trị bệnh trên cây cà phê, cùng các khía cạnh nông nghiệp khác để canh tác cà phê có hiệu quả.

 

Trở lại Việt Nam, người trồng cà phê vẫn phải tự túc là chính. Và chưa lúc nào họ hết nỗi lo về giá cả lẫn các khoản nợ nần. Họ vẫn tự hỏi rằng, tại sao với cái “tiếng” đứng nhì thế giới về xuất khẩu cà phê, nhưng họ lại chẳng có “miếng” nào trong việc định giá mặt hàng mình làm ra? Cách làm của Colombia là một hình mẫu tốt để ngành cà phê Việt Nam có thể tham khảo. Sự nghịch lí đã được nhắc đến từ cách đây không ít năm. Tuy nhiên, điều quan trọng là ngành này có chịu nhấc những bước chân để đi tìm giá trị thực cho mình, hay vẫn loay hoay với những phân tích, mổ xẻ tại các buổi hội thảo, hội nghị. 

Phú Li

;
.
.
.