Chợ tranh tháng Chạp sáu phiên - Nông Thôn Việt

Chợ tranh tháng Chạp sáu phiên

Thứ Ba, 29/01/2019, 13:32 [GMT+7]

Chợ tranh Đông Hồ mỗi năm chỉ họp sáu phiên để bán tranh cho người dân chơi tết, một phong tục, một thú chơi độc đáo của người dân vùng đồng bằng Bắc bộ. Tiếc rằng, đến nay, chợ tranh ấy đã không còn…

Làng Đông Hồ là một ngôi làng rất cổ kính nằm cách thành phố Hà Nội khoảng 33km về phía Đông. “Nghề làm tranh của làng xuất hiện từ đầu thế kỷ XVII, dưới thời vua Lê Kính Tông. Trước năm 1938, trong làng có 200 hộ gia đình làm tranh.

Tranh dân gian là những sản phẩm thủ công
Tranh dân gian là những sản phẩm thủ công. Ảnh: Tuấn Hoàng

Tranh được in hoàn toàn bằng tay với các bản màu; mỗi màu dùng một bản, và bản nét (màu đen) in sau cùng. Giấy in tranh Đông Hồ được gọi là giấy điệp: người ta nghiền nát vỏ con điệp, một loại sò vỏ mỏng ở biển, trộn với hồ rồi quét hai lớp lên giấy dó.

Màu sắc sử dụng trong tranh là màu tự nhiên làm từ cây cỏ như đen (than xoan hay than lá tre), xanh (gỉ đồng, lá chàm), vàng (hoa hòe), đỏ (sỏi son, gỗ vang) v.v…” (Sylvie Fanchette - Nicholas Stedman, Khám phá các làng nghề Việt Nam: Mười lộ trình quanh Hà Nội, Institut de recherche pour le développement – Nxb. Thế giới, Hà Nội, 2016, trang 146).

Từ năm 1944 trở đi, hàng năm, vào dịp giáp Tết, chợ bán tranh họp ở trong và xung quanh đình làng vào các ngày 1, 6, 11, 16, 21, 26 tháng Chạp, tức mỗi năm chỉ họp sáu phiên.

Đúng như thi sĩ Hoàng Cầm đã phác họa: Bên kia sông Đuống/Quê hương ta lúa nếp thơm đồng/Tranh Đông Hồ gà heo nét tươi trong/Màu dân tộc sáng bừng trên giấy điệp (Bên kia sông Đuống, 4.1948)

Các nghệ nhân tranh dân gian làm việc nhiều nhất vào tháng 11 âm lịch để chuẩn bị tranh cho dịp Tết, thời điểm bán chạy nhất trong năm. Tết đến, tranh dân gian được bày bán ở Hà Nội và các làng thuộc đồng bằng châu thổ. Maurice Durand, tác giả cuốn sách L’Imagerie populaire Vietnamienne (Tranh dân gian Việt Nam) viết như vậy.

Còn trong bài thơ Xuân, Tú Xương viết: Đì đoẹt ngoài sân tràng pháo chuột/Loẹt lòe trên vách, bức tranh gà.

Nói đến Tết là nói đến tranh Đông Hồ. Trước kia tranh được bán ra chủ yếu phục vụ cho dịp Tết Nguyên đán, người dân nông thôn mua tranh về dán trên tường, hết năm lại bóc bỏ, dán tranh mới.

Làm quan có bốn lọng vàng/Không bằng ngày Tết về làng bán tranh. (Ca dao)

Anh Nguyễn Ngọc Chiến cho biết, bản khắc tranh được làm bằng gỗ thị, gỗ vàng tâm, gỗ thừng mực. Để đục được một bản khắc kích cỡ trung bình, anh mất từ năm đến sáu ngày.
Anh Nguyễn Ngọc Chiến cho biết, bản khắc tranh được làm bằng gỗ thị, gỗ vàng tâm, gỗ thừng mực. Để đục được một bản khắc kích cỡ trung bình, anh mất từ năm đến sáu ngày. Ảnh: Tuấn Hoàng

Nghệ nhân Lê Huy Hoán, 88 tuổi, tám tuổi đã biết ngồi in tranh nên ông còn nhớ in khung cảnh của tám thập niên về trước. Gà chưa gáy sáng canh năm mà bến đò Đuống đã nườm nượp thuyền lớn thuyền nhỏ ngược xuôi về neo đậu. Mùng một tháng Chạp, đình tranh Đông Hồ bắt đầu mở phiên đón khách.

Phường buôn mang đủ thứ sản vật vùng miền đến góp mặt. Phường Thanh - Nghệ mang nước mắm, phường Bình Lục mang lụa sồi, Đồng Hới mang chiếu cói, thì phường Phú Thọ mang trà mạn còn Vĩnh Bảo vác theo những bao thuốc lào. Rộn ràng kẻ bán người mua, trả tiền cũng được mà đổi sản vật cũng xong, chả câu nệ.

Mấy anh em Hoán đã quen với việc dậy trước khi gà gáy để phụ thầy mẹ gánh tranh ra sân đình ngồi bán. Cậu lấy kẹp tre giăng bốn cô Tố nữ và bộ Tứ bình Kiều lên dây gai, còn mấy bức ngắn và nhỏ như Heo đàn, Trâu sen, Vinh hoa, Phú quý…

Hoán chồng lại thành từng trăm một để trên cái chiếu buồm trên sân đình cho khách buôn tùy ý chọn lựa. Mỗi vụ Tết, thương lái mua của nhà Hoán vài muôn tranh là chuyện thường. Nên dù cả năm có duy nhất tháng Chạp để mở phiên chợ bán, nhà Hoán cũng phải làm hàng từ độ trước Trung thu, có khi còn không đủ.

Mỗi bức tranh chất chứa cả tấm lòng của người tạo tác. Ngày xưa, vào khoảng tháng Tám âm lịch hằng năm, cả làng Đông Hồ rộn ràng, lách cách tiếng đục gỗ làm bản in.

Ngày đó, trẻ con trong làng mới chập chững đã quen với mùi mực, mùi giấy, lớn lên cùng những câu Kiều, những tích truyện trong tranh. Lên 6, lên 7, bọn trẻ đã biết phụ giúp gia đình làm tranh, để rồi lên 9, lên 10, tự in cho mình những bức tranh đầu tiên.

Một số bản khắc và tranh Đông Hồ
Một số bản khắc và tranh Đông Hồ

Người lớn thì ngược xuôi khắp các vùng tìm nguyên liệu sản xuất. Từ việc tìm được những tấm gỗ thị, loại gỗ vốn mềm, mịn, thớ nhỏ để làm bản in cho đến việc xuống Hải Phòng kiếm vỏ sò nghiền ra làm màu trắng, lên Bắc Giang tìm sỏi son để tạo màu đỏ, lên Lạng Sơn kiếm lá chàm để làm màu xanh…

Công việc tất bật, ròng rã hàng tháng trời, đến gần Tết mới kết thúc. Khắp làng, bất cứ khoảng trống nào, từ sân đình, mái nhà, lề đường, bờ sông… đều được tận dụng để phơi tranh. Tranh Đông Hồ phủ khắp nơi, làng như một tấm thảm khổng lồ.

Thời ấy, làm cô dâu mới, đi chợ Tết có thể quên mua hoa, mua pháo, nhưng hễ quên mua mấy tờ tranh gà, tranh heo, hay cá chép làng Đông Hồ là bố chồng sẽ lắc đầu chê đoảng. Sắm đôi tranh mới mong bình an tài lộc, hết năm lại bóc đi thay đôi khác.

Treo tranh Đông Hồ dần trở thành cái thú chơi xuân cho cả miền Bắc Việt Nam. Theo ghi chép của Maurice Durand, tác giả công trình nghiên cứu sâu sắc và đa dạng nhất về tranh dân gian Việt Nam – L’Imagerie populaire Vietnamienne (Tranh dân gian Việt Nam): “Vào dịp Tết, tranh dân gian được bày bán khắp các phố phường, dán trong nhà hoặc triển lãm nơi công cộng dù chúng không hẳn là những tác phẩm hội họa có giá trị to lớn.

Đó là những sản phẩm thủ công được tạo ra từ kỹ thuật lưu truyền từ đời này qua đời khác với nguồn cảm hứng gần như bất di bất dịch”.

Tháng Chạp, thuyền bè khắp nơi như mắc cửi đổ về bến phà Hồ. Lái buôn từ nhiều vùng, miền khắp cả nước, đến hẹn, vào đúng các phiên chợ lại cho thuyền cập bến, đi thêm vài bước chân là vào làng, ra chợ.

Họ chọn lựa những bức tranh ưng ý nhất, đóng hàng rồi đưa lên thuyền. Chợ tràn ngập tranh, từ những bức rất quen thuộc như: Hứng dừa, Đánh ghen, Đám cưới chuột cho đến Tứ bình, Tứ quý, Tố nữ... Người mua, kẻ bán mặc cả, ngã giá chóng vánh.

Đêm đến. Các gia đình vui như trẩy hội. Khách thường nghỉ tại các gia đình làm tranh mà họ thân thiết, đem những câu hát bài thơ đặc trưng nhiều vùng miền ngâm nga trong chén rượu, cuộc cờ. Những cuộc giao lưu văn hóa diễn ra thâu đêm suốt sáng.

Khi mặt trời ló dạng, thuyền nhổ neo rời bến, đưa nét văn hóa đậm đà xứ Kinh Bắc lên Hà Nội, xuôi Lục Đầu, tỏa đi muôn ngả.

Nghệ nhân Nguyễn Đăng Chế kể rằng, những năm 40 - 50 của thế kỷ XX, chỉ mới là đứa trẻ, nhưng cũng đủ để ông cảm nhận được hết những tinh túy của chợ tranh, của người làng nghề.

Ngày ấy, cuộc sống của dân làng tranh vốn đậm chất nghệ sĩ, đạm bạc, nhu cầu về tiền bạc vốn chẳng nhiều, chẳng ai có ý nghĩ sẽ làm giàu vì tranh. Vì thế, các phiên chợ, tiền ít được sử dụng. Phương tiện giao dịch chủ yếu là hàng hóa.

Lái buôn từ Nam Định thì chở theo vải, từ Hải Phòng chở theo cá, mực, từ Thái Bình chở theo chiếu… đến chợ đổi tranh. Dân làng đem các sản phẩm đó dùng quanh năm và đổi lấy gạo ở các nơi khác.

Rồi chiến tranh, làng Đông Hồ rực lửa, tranh Đông Hồ bị thiêu trụi…

Bản khắc gỗ làm bản in
Bản khắc gỗ làm bản in

Hòa bình lập lại nhưng mãi đến năm 1969, nhà nước mới cho phục hồi nghề. Những lao động già cả trong làng được đầu công cho tổ tranh của hợp tác xã nông nghiệp do nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam làm tổ trưởng. Lay lắt duy trì được đến cuối những năm 1980 thì giải tán vì nhà nước chỉ lệnh in tranh chứ không cho đầu ra. Mà cũng không ai bỏ tiền ra mua tranh hồi ấy làm gì, đến gạo ăn còn chẳng đủ.

Thế là thêm một lần tan tác. “Khi tổ tranh tan rã, thầy tôi bỏ tiền túi ra mua và xin lại ván khắc của các nhà, dẫu cơm còn không có đủ để nuôi vợ nuôi con.

Cụ không đành lòng nhìn cái nghiệp năm trăm năm này bị xẻ ra làm củi đun, làm thớt băm bèo hay đậy nóc chuồng gà, chuồng heo…,” anh Nguyễn Hữu Quả, con trai nghệ nhân Nguyễn Hữu Sam, nhớ lại.

Cuộc sống người dân ngày càng khó khăn, thú chơi tranh Tết dần bị thế chỗ bởi những lo toan cơm, áo, gạo, tiền. Tranh Đông Hồ dần mai một, chợ tranh Tết làng Đông Hồ biến mất...

Vật đổi sao dời, đến nay làng Đông Hồ có 300 gia đình của 17 dòng họ thì chỉ còn hai hộ làm tranh, còn thì đều chuyển hết sang làm hàng mã. Làm sao để khôi phục làng tranh truyền thống, chợ tranh tết đặc sắc cũng là niềm trăn trở của chính quyền xã Song Hồ.

Ông Nguyễn Văn Tuân, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Song Hồ, tâm sự: “Chúng tôi lớn lên, làng tranh dần mai một, chợ tranh Tết chỉ còn trong những câu chuyện kể, ai cũng muốn phục dựng những nét văn hóa rất đỗi tự hào từ xa xưa.

Bây giờ, tranh Đông Hồ không còn được ưa chuộng. Cả làng tuy chỉ còn lại hai gia đình làm tranh, nhưng đó chính là cơ sở để mai sau hình thành làng nghề, khôi phục chợ tranh Tết. Muốn làm được điều đó, rất cần sự quan tâm của chính quyền huyện, tỉnh và cả trung ương”. 

Bằng Vân

 

 

 

;
.
.
.