, //, :: GTM+7

Kinh tế xanh, nhìn từ nuôi biến

CẨM HÀ
Với hơn 3.000km bờ biển kéo dài từ Móng Cái, Quảng Ninh đến mũi Cà Mau cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ nằm trên hải phận Biển Đông; vùng biển có đặc quyền kinh tế rộng trên 1 triệu kilomet vuông, Việt Nam có lợi thế rất lớn để phát triển kinh tế biển, đặc biệt là nuôi biển. Theo PGS.TS Nguyễn Hữu Dũng - Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nuôi biển là trọng tâm đột phá phát triển thủy sản trong 10 năm tới, là dư địa lớn nhất còn lại của hải sản trong thời gian tới, đồng thời cũng là cơ hội tái tạo nguồn lợi hải sản, đa dạng sinh học biển.
Hình minh họa.

Tỷ trọng đang lớn dần

Tại Việt Nam, ngày càng có nhiều chủng loại hải sản thích hợp để nuôi. Nhóm nhuyễn thể có ngao/nghêu, sò, hàu, vẹm xanh, tu hài, bào ngư, trai ngọc, ốc hương… Nhóm cá biển có cá song, cá giò, cá hồng, cá vược, cá tráp, cá chim vây vàng, cá sủ đất, cá măng biển. Giáp xác có tôm hùm, cua, ghẹ; rong tảo biển có rong câu, rong nho, rong sụn, vi tảo biển… Nhóm da gai có hải sâm; các sinh vật cảnh nước mặn…

Theo các chuyên gia của Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nuôi biển được đánh giá cao về hiệu quả kinh tế - môi trường: năng suất cao hơn và hệ số chuyển đổi thức ăn (FCR) thấp hơn (FCR của cá biển sử dụng thức ăn viên chỉ từ 1,0 - 2,5 trong khi động vật trên cạn 4,0 - 8,0), lại ít gây hại tới môi trường. Nghề trồng rong biển có thể đạt tới 400kg protein/ha/năm (so với trồng cây trên đất chỉ thu 16kg/ha/năm), mà không hề tốn phân, thuốc bảo vệ thực vật và nước tưới, lại có tác dụng hấp thu các tác nhân gây ô nhiễm khác trong khí quyển và đại dương.

Tổng diện tích có tiềm năng nuôi biển ở nước ta khoảng 500.000 ha (5.000 km2), trong đó vùng bãi triều 153.300ha; vùng vũng vịnh, eo ngách và ven đảo là 79.790ha; vùng biển xa bờ khoảng 167.000ha, diện tích còn lại là các hình thức khai thác khác.

Tổng diện tích nuôi biển năm 2010 đạt 38.800ha, năm 2019 đạt trên 256.000ha, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 23,3%/năm.

Năm 2010, sản lượng nuôi biển chỉ đạt hơn 156.000 tấn, đến năm 2019 đạt gần 598.000 tấn, tốc độ tăng trưởng bình quân 16%/năm. 

Việt Nam phấn đấu đến năm 2030 có từ 2 - 3 triệu tấn hải sản nuôi biển, bao gồm cả nuôi xa và nuôi gần.

(Nguồn: Tổng cục Thủy sản)

Cái khó còn đang bó…

Ở nước ta, nghề nuôi biển còn nhiều thách thức và rủi ro cả ở đầu vào và đầu ra. Sản xuất con giống còn ở quy mô nhỏ lẻ và phụ thuộc nhiều vào nguồn nhập khẩu tiểu ngạch. Cả nước hiện có khoảng 50 cơ sở sản xuất giống cá biển, sản xuất được trên 500 triệu con mỗi năm. Công nghệ sinh sản nhân tạo cua, ghẹ hiện nay đã được hoàn thiện, công nghệ sản xuất giống đã được chuyển giao cho nhiều địa phương, song vẫn chưa đáp ứng nhu cầu. Một số loại hải sản cho giá trị cao vẫn chưa có công nghệ sản xuất giống thương phẩm và tiềm tàng rủi ro lớn cho người nuôi. Ví dụ như nguồn giống tôm hùm chủ yếu vẫn phụ thuộc vào khai thác tự nhiên và nhập khẩu, không ổn định về số lượng và chưa đảm bảo về chất lượng, về yêu cầu mùa vụ...

Nguồn thức ăn cho cá nuôi - một khi phát triển quy mô lớn - cũng là câu hỏi lớn, vì không thể phụ thuộc mãi vào nguồn cá tạp. Hiện nay, 80% thức ăn cho các loài hải sản nuôi là từ nhập khẩu hoặc do doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài sản xuất. Về thị trường tiêu thụ, sản phẩm nuôi biển thường ở dạng tươi sống và chủ yếu xuất khẩu tiểu ngạch, một ít bán cho khách du lịch qua các nhà hàng, vựa hải sản và chợ địa phương. Các nhà máy chế biến trong nước hầu như chưa tham gia một cách bền vững vào chuỗi tiêu thụ sản phẩm nuôi biển.

Ngoài ra, còn nhiều trở ngại khác cần được nhận diện, bao gồm xung đột lợi ích trong sử dụng mặt nước giữa nuôi biển và các ngành kinh tế khác (như du lịch, vận tải biển, phát triển khu công nghiệp…). Trên thực tế, hàng loạt lồng bè đã phải thu hẹp quy mô sản xuất hoặc phải di dời tìm địa điểm mới khi quy hoạch phát triển du lịch ở các vùng ven biển (như Cửa Lò, vịnh Hạ Long) hoặc phát triển khu công nghiệp (như Nghi Sơn hoặc Vân Phong).

Cũng không thể không lưu ý rằng biến đổi khí hậu (dẫn đến nhiệt độ tăng và nước biển dâng) sẽ có những tác động không nhỏ đến nghề này trong tương lai, không chỉ đối với công trình nuôi biển như lồng bè, bãi triều nuôi nghêu, mà còn ảnh hưởng tới sức khỏe động vật nuôi, môi trường nuôi. Sự thay đổi tần suất, cường độ bão và áp thấp nhiệt đới cũng có thể phá vỡ hệ thống đê bao, lồng bè nuôi biển và làm thay đổi môi trường sinh thái vùng nuôi; hoặc lượng mưa tăng có thể gây lũ lụt phá hủy công trình nuôi, làm giảm độ mặn ở vùng nuôi ven biển và cửa sông.

Bên cạnh nhiều yếu tố tích cực về môi trường, nghề nuôi biển cũng có những hạn chế. Với đại đa số mô hình nuôi lồng bè truyền thống gần bờ, sử dụng nguồn thức ăn chủ yếu từ cá tạp như hiện nay, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường là không hề nhỏ. Một số vùng nuôi hiện đã có dấu hiệu ô nhiễm nặng do độ sâu và tốc độ dòng chảy thấp, mật độ các lồng nuôi quá cao, chất thải sinh hoạt và chất thải từ hoạt động nuôi quá lớn, điển hình như khu vực Cát Bà (Hải Phòng); vịnh Cam Ranh, Vân Phong (Khánh Hòa)... Mô hình nuôi biển bằng cá tạp còn có thể dẫn đến khan hiếm nguồn cá tạp tự nhiên do nhu cầu lớn dẫn đến khai thác quá mức.

Theo các nghiên cứu khoa học về thực phẩm, dự báo đến năm 2030 thế giới cần thêm 19 triệu tấn hải sản so với 2015. Năm 2050, thế giới cần sản lượng đạm động vật gấp 1,7 lần hiện nay, trong đó nguồn cung cấp chính là nuôi trồng hải sản từ đại dương.

Quyết sách nào?

Sẽ không có được sự đột phá đồng thời “chấn hưng” nguồn lợi thủy hải sản, đa dạng sinh học biển nếu như không phát triển nghề nuôi biển. Đó là quan điểm được các nhà hoạch định chiến lược nông nghiệp và môi trường thống nhất cao. Từ góc nhìn của cơ quan quản lý Nhà nước, Thứ trưởng Bộ NN&PTNT Phùng Đức Tiến cho rằng, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế chính sách đồng bộ cho phát triển nuôi biển bền vững, trong đó, đặc biệt chú trọng chính sách bảo hiểm cho hoạt động này. “Để phát triển ngành công nghiệp nuôi biển, Việt Nam cần quy hoạch nuôi biển đến năm 2030, tầm nhìn 2050; cần ban hành một Nghị định về khuyến khích nuôi biển với những chính sách ưu đãi đầu tư, tín dụng và có cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa công nghiệp nuôi biển với công nghiệp du lịch, dầu khí, quốc phòng”. - Thứ trưởng Tiến nhấn mạnh.

Về phía người sản xuất, TS Nguyễn Hữu Dũng đề nghị Chính phủ sớm phê duyệt Đề án phát triển nuôi biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn 2045 theo hướng áp dụng tối đa khoa học công nghệ tiên tiến trên thế giới vào thực tiễn nghề nuôi. Cùng quan điểm với nhiều chuyên gia khác, ông Dũng cho rằng nuôi biển xa bờ là xu hướng phát triển tất yếu vì giúp tránh được nhiều vấn đề về môi trường như tích tụ chất thải của vật nuôi, hạn chế phát triển các loài vi sinh vật gây bệnh cho các hệ sinh thái ven bờ. Khoa học, đặc biệt là với kho dữ liệu lớn về địa lý, hải dương học cộng với các thiết bị nuôi trồng hải sản hiện đại cho phép các công ty và các nhà quản lý đưa ra những quyết định khôn ngoan về vị trí đặt trang trại ở những nơi có dòng nước chảy mạnh và sâu hơn để có thể pha loãng và làm sạch chất thải ô nhiễm. Đồng thời, các dự án nuôi biển khơi xa cũng ít có khả năng ảnh hưởng đến các hoạt động du lịch, khu công nghiệp…

Tags

Bình luận

Xem nhiều


Hiện nay, ở huyện Chợ Gạo (Tiền Giang) hầu như không còn ruộng lúa, người dân chủ yếu canh tác thanh long, nhưng loại trái cây này hiện đang ế ẩm, rớt giá thê thảm...

Làm sao quên một loài cỏ đặc biệt, có hương thơm xua tan phiền muộn, kích hoạt những cảm xúc tươi mới. Đó chính là cỏ mật.


Hình ảnh rừng cây phi lao phòng hộ dọc ven biển miền Trung là khá phổ biến. Thế nhưng, rừng phi lao phòng hộ hàng trăm năm tuổi, phần thân cổ thụ phải mấy người ôm mới xuể...
Nổi bật

Dù khổ thế nào anh cũng lo cho con học hành đến nơi đến chốn. Anh không muốn đời con sẽ phải lặp lại đời ba mẹ nó, nên những gì tốt nhất, anh đều dành cho con hết thảy.
Được quan tâm

Ngày 14/04/2022, hình vẽ tượng trưng của Hang Sơn Đoòng - hang động tự nhiên lớn nhất thế giới tại Quảng Bình đã được vinh danh trên Google tìm kiếm tại Việt Nam và nhiều quốc gia khác. Đây là một trong số ít lần trong lịch sử Google Doodle mà một địa danh cụ thể ở Việt Nam được chọn để hiển thị.
6





Đăng ký nhận tin nóng
Giúp bạn cập nhật các thông tin mới nhất