Đồng Bằng Sông Cửu Long 'bơi' cùng hạn mặn - Nông Thôn Việt

Đồng Bằng Sông Cửu Long 'bơi' cùng hạn mặn

Thứ Hai, 02/03/2020, 08:22 [GMT+7]

Theo số liệu phân tích mưa quan trắc trên toàn cầu, lượng mưa mùa lũ năm 2019 hụt khoảng 25% tại thượng nguồn sông Mê Kông và từ 20 - 50% tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) so với cùng kỳ những năm trước. Tình hình này cùng với lũ thấp năm vừa rồi làm cho nước mặn tiến sâu vào nội đồng, khiến mùa khô hạn mặn 2019 - 2020 của ĐBSCL đến sớm hơn, gay gắt hơn, và kéo dài hơn so với đỉnh cao hạn mặn năm 2015 - 2016.

 

Ngay từ cuối tháng 12 năm ngoái, nhiều địa phương đã phải chống chọi với hạn mặn, và tình trạng càng trở nên nghiêm trọng vào cao điểm hạn mặn - cuối tháng 1 đầu tháng 2 này.

 

Vất vả mùa hạn mặn


Theo dự báo, hạn mặn sẽ ảnh hưởng đến 50% quận, huyện của 10/13 tỉnh ĐBSCL. Mặc dù đã chủ động xuống giống sớm trên 1,5 triệu héc-ta lúa Đông Xuân, nhưng vẫn còn khoảng trên 330.000ha cần tăng cường các giải pháp thủy lợi để đảm bảo đủ cấp nước. Thiệt hại đang kéo dài từ tỉnh đầu nguồn đến tỉnh cuối nguồn vùng đồng bằng.

Tại huyện Ba Tri - tỉnh Bến Tre, hàng chục héc-ta diện tích lúa Đông Xuân vừa gieo xạ thì đã có nguy cơ bị mất trắng do ảnh hưởng của xâm nhập mặn. Đây là diện tích nằm trong vùng hạn mặn, đã được khuyến cáo không sản xuất, nhưng bà con tiếc đất vẫn cố vội xuống giống, đến khi hạn mặn ùa tới, thì đành bỏ hoang bởi càng cứu thì thiệt hại càng lớn. Điều đáng nói là người dân sau nhiều năm trắng tay, vẫn muốn “đánh bạc” với ông Trời. Thời điểm của bài viết này, tỉnh Bến Tre có khoảng 2.000ha lúa Đông Xuân trong tình trạng thấp thỏm chờ nước ngọt. Còn tại tỉnh Cà Mau, ông Nguyễn Long Hoai - Chi cục trưởng Chi cục Thủy lợi tỉnh Cà Mau cho biết: “Tình hình hạn mặn năm 2020 này đối với tỉnh Cà Mau là rất nặng nề. Hiện nay theo rà soát thì trà lúa tôm 35.000ha đã có 15.000ha bị ảnh hưởng mức độ từ 30 – 70%, và vụ Đông Xuân cũng khoảng 15.000ha”.

Hạn mặn cũng đang và sẽ ảnh hưởng đến khoảng 39% trong tổng diện tích 360.000ha cây ăn trái của toàn vùng ĐBSCL. Tình hình sẽ nghiêm trọng hơn, khi thời tiết diễn biến bất thường, cùng với việc nhiều quốc gia thượng nguồn đang tích nước, dẫn đến lượng nước về hạ nguồn có thể giảm từ 20 – 50% so với trung bình các năm. Như vậy, tình trạng sẽ gay gắt hơn đỉnh cao mùa hạn mặn năm 2016. Nhiều hộ nông dân đã chủ động tích nước cho sản xuất nhưng nguy cơ vẫn phải bỏ ra hàng chục triệu mua nước ngọt tưới cây trong mùa hạn năm nay là rất lớn. Trước mắt, nhiều địa phương kiên quyết không canh tác lúa vụ 3 cho khoảng 50.000ha đất lúa Đông Xuân, đồng thời chủ động chuyển đổi cây trồng vật nuôi cho 50.000ha khác để giảm áp lực sử dụng nước và đem lại hiệu quả kinh tế cao hơn.

Nỗi lo thiếu nước ngọt

Không chỉ thiếu nước cho sản xuất, mùa hạn mặn về còn kéo theo nỗi lo thiếu nước cho sinh hoạt của hàng ngàn hộ dân vùng ĐBSCL. Năm nay, nếu tình trạng hạn mặn diễn biến theo đúng kịch bản dự báo, thì sẽ có trên 150.000 hộ dân thiếu nước, tập trung ở những vùng sâu, vùng xa, địa hình không thuận lợi để tích nước và triển khai các biện pháp ứng phó, trong khi đa số hộ dân ở các vùng này chủ yếu lại dựa vào nguồn nước ngọt tự nhiên trong sinh hoạt. Cùng với nỗi lo thiếu nước, nhiều hộ dân phải đối mặt nỗi lo nguồn nước ô nhiễm, ảnh hưởng đến sức khỏe. Bà Nguyễn Thị Hằng, xã Phước Long, huyện Giồng Trôm, tỉnh Bến Tre than thở: “Nhiều hộ khó khăn, không đủ nước dùng nên buộc lòng phải ăn uống, sinh hoạt hàng ngày bằng nước sông. Chỉ nhà nào có điều kiện trữ được nước đủ cho 3 – 4 tháng, chứ không thì trong mùa nước mặn này cũng phải xài nước sông, dơ và ô nhiễm lắm”.

Rút kinh nghiệm từ mùa khô hạn năm 2015-2016, ngay từ sớm, tỉnh Bến Tre đã tích cực tuyên truyền, hỗ trợ người dân chủ động tích trữ nước mưa cho ăn uống, sinh hoạt. Đồng thời, xây dựng hồ trữ nước ngọt 800.000m3 tại huyện Ba Tri, để kịp thời cung cấp nước cho bà con khi có thiếu hụt nghiêm trọng. Đây cũng là hồ nước ngọt lớn nhất vùng đồng bằng, được xem là một mô hình trữ nước ngọt hiệu quả có thể nhân rộng trong điều kiện hạn mặn đến hẹn lại lên.

Chính quyền tỉnh Cà Mau cũng áp dụng biện pháp tuyên truyền người dân tận dụng các ao hồ, lu cạp để chứa nước sinh hoạt. Ông Nguyễn Long Hoai rất quan tâm đến biện pháp công trình: “Tỉnh Cà Mau không có nước từ sông Tiền, sông Hậu, nên việc dự trữ nước vào mùa khô là rất cần thiết. Cà Mau phải làm sao có cái hồ để trữ nước mùa khô”.

Hiện tại có khoảng 82.000 hộ dân toàn vùng ĐBSCL bị thiếu nước, và dự kiến sẽ tăng lên gấp đôi vào cao điểm của hạn mặn. Mặc dù người dân đã chủ động tích nước nhưng rõ ràng, nguy cơ thiếu nước sinh hoạt, hoặc nước sinh hoạt không đảm bảo là khó tránh khỏi. Do vậy, Bạc Liêu, Trà Vinh đang tiếp tục triển khai xây dựng hồ trữ nước ngọt, đập tạm ngăn mặn để giữ nguồn nước ngọt cho các trạm cấp nước tập trung nông thôn. Tại các tỉnh Sóc Trăng, Long An, Cà Mau, Kiên Giang… các cơ quan chức năng đã tăng công suất với các công trình nước sạch và nối dài tuyến ống về cho người dân khu vực bị ảnh hưởng. Người dân tại các vùng sâu, xa, hải đảo cũng sẽ được hỗ trợ nguồn nước khi hạn mặn gay gắt, kịp thời phục vụ nhu cầu sinh hoạt tối thiểu của người dân vùng đồng bằng.

Sống chung với biến đổi khí hậu

Chủ động ứng phó, ĐBSCL đã giảm diện tích lúa Đông Xuân, sắp xếp lại lịch thời vụ và thay đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, tập trung vào các giải pháp công trình để ngăn mặn, trữ ngọt, bảo vệ mùa màng. Đặc biệt, việc chủ động các giải pháp trữ nước ngọt cho sản xuất, sinh hoạt, chính là sự thích ứng hiệu quả nhất để người dân ĐBSCL sống chung với hạn mặn.

Mặc dù trong thời điểm sản xuất lúa vụ Đông Xuân, nhưng hàng trăm héc-ta đất lúa tại huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, vẫn án binh bất động. Kiên quyết không xuống giống ở những vùng không thuận lợi, để tránh gây áp lực lên nguồn nước và thiệt hại cho người dân là chủ trương đang được chính quyền các tỉnh ĐBSCL quyết liệt thực hiện. Vụ Đông Xuân này, toàn vùng đã giảm được khoảng 100.000ha đất lúa, chuyển sang canh tác các cây, con có lợi thế hơn. Đi kèm với đó là sắp xếp lại lịch thời vụ, phát triển các chuỗi sản xuất gắn vùng nguyên liệu với thị trường, đảm bảo hiệu quả kinh tế và tính bền vững của sản xuất nông nghiệp ĐBSCL.

Cùng với chuyển đổi cơ cấu cây trồng thì việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân là rất quan trọng, bởi chính họ là những người chủ động ứng phó, thích ứng với biến đổi khí hậu. Tại huyện Chợ Lách, vùng sản xuất hoa, cây giống trọng điểm của ĐBSCL, rất nhiều gia đình đã chủ động đào ao, trữ nước ngọt, nên ngay trong mùa hạn mặn, vườn cây vẫn sinh trưởng tốt, đem lại hiệu quả kinh tế cao. Anh Nguyễn Văn Chức ở huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre chia sẻ: “Năm nay thấy nước mặn lên sớm quá, tôi mới đào thêm 1 cái hồ nữa. Cả 2 hồ này trữ được khoảng 800 khối nước, chắc tưới được khoảng 3 - 4 tháng là đến mùa mưa”.

Song song với chủ động thích ứng, không thể thiếu các biện pháp công trình phòng chống hạn mặn. Bộ NN&PTNT hiện đang tổng rà soát lại tất cả các công trình kiểm soát mặn - ngọt. Đến nay đã có 11 công trình lớn cấp quốc gia và nhiều cống kiểm soát mặn hoàn thành trước tiến độ, đưa vào vận hành để kịp thời ngăn mặn, trữ ngọt, chủ động cấp nước ngọt cho gần 100.000ha tăng thêm so với năm 2016. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều việc phải làm để ngăn mặn, trữ ngọt cho toàn vùng, nhất là trong cao điểm hạn mặn.

Với tình hình biến đổi khí hậu ngày càng phức tạp, không loại trừ nguy cơ hạn mặn năm sau sẽ đến sớm hơn năm trước, hoặc mức độ nhiễm mặn sẽ tăng lên và thời gian có thể kéo dài hơn. Vì vậy, người dân không được chủ quan, tuyệt đối tuân thủ lịch thời vụ, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, bằng mọi biện pháp linh hoạt để hạn chế thấp nhất thiệt hại. Về lâu dài, cần tập trung tái cấu trúc toàn vùng trên cơ sở lập quy hoạch vùng, liên kết vùng, để khai thác tiềm năng, lợi thế, giải quyết các thách thức đang ngày càng nặng nề đối với vùng đồng bằng trù phú nhất cả nước theo Nghị quyết 120 của Thủ tướng CP về phát triển ĐBSCL bền vững, hiệu quả, thích ứng với biến đổi khí hậu.

HƯƠNG GIANG - AN THÙY

;
.
.
.
.